.

Văn hóa xuống cấp- vì đâu?

Nếu cho rằng đất nước ta hiện nay đang bị "loạn chuẩn" văn hóa thì sự "loạn chuẩn" này có một phần do sự trớ trêu của lịch sử để lại. Lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam nhìn từ phương diện này có thể nói đó là một bi kịch. sự kiện nóng

Hà Nội ư? Có riêng gì Hà Nội...?

Kinh tế phát triển, đời sống vật chất của người dân nhìn chung được nâng lên so với thời kỳ "chưa mở cửa". Thế nhưng ở chiều ngược lại, đời sống văn hóa tinh thần lại có chiều hướng "đi xuống" đến mức "báo động đỏ".

Đây là nhận định chung của khá nhiều người, trong đó có những "chuyên gia văn hóa", những người đang giữ trọng trách "định hướng""tuyên truyền" văn hóa của đất nước đến mọi tầng lớp nhân dân.

Nhiều người còn thẳng thắn lên án và "định danh" những biểu hiện lệch lạc trong lối sống, lối sinh hoạt của một bộ phận không nhỏ người dân (nhất là lớp trẻ) hiện nay là: Suy đồi về đạo đức, hay xuống cấp về văn hóa, nói chung.

Và đỉnh điểm cho thực trạng đau lòng này, có lẽ là vấn đề đang được dư luận cả nước quan tâm, mổ xẻ, tạo thành một diễn đàn trao đổi sôi nổi trên báo điện tử VietNamNet gần đây: Vì sao có một bộ phận không nhỏ người Hà Nội- những người đang sống ngay tại Thủ đô "nghìn năm văn hiến" của cả nước lại có những biểu hiện "xuống cấp" về văn hóa đến mức "không thể tin dù đó là sự thật"? Thế thì nguyên nhân nào đưa đến thực trạng này? Và những ai phải chịu trách nhiệm chính?

Bị kịch do... lịch sử để lại?

Trước hết cần khẳng định, vấn đề "suy đồi về đạo đức" hay "xuống cấp về văn hóa" của một bộ phận người dân hiện nay không chỉ ở riêng Thủ đô Hà Nội mà còn khá phổ biến, như hiện trạng đau lòng của xã hội.

Có nhiều nguyên nhân đã được các "chuyên gia văn hóa" đưa ra. Tuy vậy với góc nhìn cá nhân, người viết xin mạo muội góp vào một ý kiến chia sẻ dưới đây.

Từ góc nhìn văn hóa- lịch sử, có thể nói, Việt Nam trước khi có mặt của người Pháp là một xã hội thuần nông nghiệp. Mọi vấn đề tổ chức thể chế chính trị, tổ chức đời sống, văn hóa có phần chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc từ  văn hóa Trung Hoa.

Điều này tất yếu dẫn đến mọi "chuẩn mực" văn hóa của người dân trong xã hội được xác lập dựa trên cơ sở nền tảng là những học thuyết, tư tưởng, văn hóa mà nổi bật nhất là học thuyết Nho giáo của Khổng Tử.

Khi người Pháp đặt chân lên và dần dần thiết lập sự thống trị trên toàn lãnh thổ (bởi "chủ nghĩa thực dân") thì như một lẽ tất yếu, nền tảng văn hóa chịu ảnh hưởng của người Trung Hoa trước đây bị phá vỡ.

Xã hội Việt Nam khi đó bị phân hóa thành 2 xu hướng. Xu hướng tiến bộ ra sức cổ vũ và ủng hộ văn hóa phương Tây (vừa du nhập vào). Xu hướng bảo thủ thì cho rằng cần phải lên án, đồng thời ra sức bảo vệ những giá trị văn hóa được xem là "truyền thống".

Đây có thể xem là "sự xáo trộn và mất ổn định" hay nói cách khác là "loạn chuẩn" văn hóa đầu tiên trong xã hội Việt Nam trong quá trình vận động và phát triển.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (lấy tư tưởng Mac-xit làm nền tảng trong mọi đường hướng) trong suốt một thời kì dài "đánh thực dân (sau này là "đánh đế quốc") - phong kiến" giành độc lập và thống nhất đất nước, gần như những vấn đề liên quan đến văn hóa phương Tây, văn hóa thời phong kiến bị lên án, xóa bỏ.

Dù muốn dù không, ở giai đoạn này chúng ta cũng đã thừa nhận có những sai lầm, vì đã đồng nhất giữa những giá trị văn hóa của nhân loại (phương Tây và phương Đông) với những gì ta cho là tàn tích phản động, phong kiến cần xóa bỏ.

Và đây chính là lần "loạn chuẩn văn hóa" lần thứ 2 của chúng ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.

Từ khi "mở cửa" cho đến nay, có thể nói tuy nhiều vấn đề của đất nước (trong đó có văn hóa) đã được nhìn nhận theo chiều hướng tích cực hơn.

Nhưng cơ bản nhìn chung, xã hội vẫn còn bị phân hóa bởi 2 xu hướng: Ủng hộ văn hóa phương Tây, phê phán lên án quyết liệt những vấn đề liên quan đến văn hóa Trung Hoa (coi đó là xiềng xích nguy hiểm) vốn đã ăn sâu vào tận xương tủy của rất nhiều người Việt Nam.

Ngược lại là xu hướng xem những giá trị văn hóa bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa là "tinh thần", "bản sắc", là "truyền thống" văn hóa dân tộc cần phải giữ gìn, phát huy.

Khoan bàn đến chuyện ủng hộ xu hướng nào. Tuy nhiên có thể nói, đây cũng là biểu hiện rõ ràng cho thấy, chúng ta vẫn còn bị "xáo trộn và mất tính ổn định" ở việc xác lập những giá trị riêng mang tính cốt lõi, nền tảng trong xu hướng hội nhập phát triển của đất nước.

Với thế giới mở, sự bùng nổ thông tin của thời đại ngày nay thì sự xáo trộn và mất ổn định, thậm chí mất kiểm soát những giá trị văn hóa vốn góp phần làm nên "hồn cốt" của dân tộc đang ngày một trở nên đáng lo và bức thiết hơn bao giờ hết.

Thế nhưng điều đáng tiếc là vấn đề này chúng ta lại ít chú ý. Có lẽ do quá tập trung cho việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống vật chất mà quên việc chăm lo đời sống tinh thần, nuôi dưỡng tình cảm và tâm hồn Việt?

Từ những vấn đề trên có thể nói, đây là sự trớ trêu của lịch sử, khi dân tộc bị đặt vào những "tình cảnh ngặt nghèo" trong quá trình vận động và phát triển. Ở góc nhìn văn hóa, hậu quả của những sự "loạn chuẩn" văn hóa kéo dài này, đã vô tình gây nên sự hoang mang đối với người dân.

Điều đáng nói, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng có quá nhiều sự thay đổi và "xáo trộn" nên người dân thật sự không cách nào thích ứng cho kịp. Họ cảm thấy hoang mang, mơ hồ, thậm chí mất phương hướng trước những vấn đề của cuộc sống khi không "dựa vào đâu", "tin vào ai" để xác lập cho bản thân một thái độ ứng xử phù hợp, đúng đắn.

Đây chính là một trong những nguyên nhân căn bản và sâu xa nhất gây nên những sự "lệch lạc" hay "xuống cấp""suy đồi" văn hóa đạo đức trong xã hội ta hiện nay.

Vì vậy, đề cập đến những hiện tượng đó trong xã hội  mà không xem xét đến yếu tố này như một nguyên nhân căn bản, sẽ khó lý giải và tìm ra những giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Ví như "suy đồi đạo đức" hay "xuống cấp văn hóa" không chỉ diễn ra ở Thủ đô Hà Nội mà là ở khắp nơi trên đất nước, nhưng tại sao Hà Nội lại là nơi bị dư luận "điểm danh" đâu tiên? Thật ra, cũng không khó để lý giải chuyện này.

Thứ nhất, do Hà Nội là Thủ đô, là trung tâm, đầu não của đất nước- nơi hội tụ tinh hoa văn hóa một quốc gia mà còn như thế thì dù muốn dù không cũng phải chịu sự "phán xét" trước tiên.

Bên cạnh đó, so với các địa phương khác, phải chăng Hà Nội là nơi mà theo nhiều người thì sự "xuống cấp" "suy đồi" đạo đức, văn hóa là trầm trọng nhất.

Nói điều này, không phải nhằm mục đích chê bai người dân Thủ đô mà trước hết, nên xem đây là sự "phản tỉnh" cần thiết để mọi người dù đang sống ở bất kỳ nơi đâu cũng hiểu rằng, nguy cơ "suy đồi" văn hóa là có thật. Nguy cơ đó đang hàng ngày rình rập chúng ta.

Bởi Hà Nội với tư cách là Thủ đô, là thủ phủ của đất nước nên gần như tất cả những vấn đề liên quan đến chính sách văn hóa thì Hà Nội sẽ bị ảnh hưởng và tác động một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất.

Điều đó cũng có nghĩa sự xáo trộn và mất ổn định trong việc xác lập những giá trị văn hóa của dân tộc xảy ra, qua các chặng đường lịch sử như đã phân tích ở trên thì Hà Nội là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Nói cách khác, ở bất cứ thời kỳ nào, hoàn cảnh nào, nếu những chính sách văn hóa của nhà cầm quyền ban hành mà đúng đắn, lành mạnh thì người dân Thủ đô khi ấy sẽ là người "hưởng lợi" nhiều và trước nhất.

Còn ngược lại nếu những chính sách văn hóa sai lầm hay tiêu cực thì cũng chính người Hà Nội chứ không phải người dân địa phương khác phải gánh lấy hậu quả.

Tóm lại, nếu cho rằng đất nước ta hiện nay đang bị "loạn chuẩn" văn hóa thì sự "loạn chuẩn" này có một phần  do sự trớ trêu của lịch sử để lại. Lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam nhìn từ phương diện này có thể nói đó là một bi kịch.

3. Trách nhiệm thuộc về ai?

Nếu nói sự “xáo trộn và mất ổn định” của những giá trị văn hóa do lịch sử để lại là nguyên nhân sâu xa gây nên sự “loạn chuẩn” hay “suy đồi” văn hóa của con người hiện nay thì cũng cần thừa nhận còn một nguyên nhân trực tiếp đã gây nên thảm cảnh này? Vậy nguyên nhân trực tiếp ấy là gì? Xác định rõ nguyên nhân này cũng đồng nghĩa với việc chỉ ra trách nhiệm xã hội đối với thực trạng bát nháo và suy đồi về văn hóa trong xã hội hiện nay.

Trong bài viết Trách nhiệm văn hoá là trách nhiệm chung,[2] GS Trần Hữu Dũng khái quát lại có “ba thành phần” phải có “trách nhiệm đối với văn hóa” đó là: người “sản xuất văn hóa”, người “phê bình văn hóa” và người “tiêu thụ văn hóa”. Từ góc nhìn này, có thể nói, “sự xuống cấp và suy đồi văn hóa, đạo đức” xã hội hiện nay, ngoài nguyên nhân khách quan do lịch sử để lại thì một nguyên nhân không kém phần quan trọng khác đó là do chính những con người hiện tại, cụ thể là những người đang nắm trọng trách định hướng và tuyên truyền văn hóa trong bộ máy nhà nước (những “người sản xuất và phê bình văn hóa” như cách nói của giáo sư Trần Hữu Dũng). Bởi văn hóa vốn chỉ có ý nghĩa và giá trị với người đang có mặt, đang thụ hưởng vì thế dù muốn dù không tất cả chúng ta đang có mặt ở đây đều không thể chối bỏ trách nhiệm này. Tuy nhiên, cũng cần phải xác định rõ thành phần nào phải chịu trách nhiệm chính chứ không thể nói trách nhiệm xã hội một cách chung chung được. (Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng tuy “người tiêu thụ văn hóa” cũng là một thành phần phải chịu trách nhiệm về sự “xuống cấp” văn hóa nhưng theo tôi ở nước ta đại bộ phận những “người tiêu thụ văn hóa” hiện nay vốn là những người dân ít có điều kiện và cơ hội phát biểu những vấn đề văn hóa “lớn lao” so với hai thành phần “người sản xuất và phê bình văn hóa” vì thế ở đây chúng tôi chủ yếu nhấn mạnh đến trách nhiệm của hai thành phần này mà thôi).

Rõ ràng đến thời điểm này phải thừa nhận một điều những người đang nắm giữ trọng trách “sản xuất và phê bình văn hóa” đang rất lúng túng và lơ là trong việc xác lập những cái gọi là “chuẩn mực văn hóa” của dân tộc trong sự vận động và phát triển của đất nước. Nghiêm túc mà nói đến nay, những cái gọi là “tinh hoa” văn hóa dân tộc vốn đã bị xáo trộn và mất ổn định qua từng chặng đường lịch sử vẫn chưa được xác lập lại sao cho thật thuyết phục, tránh rơi vào cực đoan, phiến diện. Cụ thể, phải làm sao xác lập những giá trị văn hóa căn bản nhất góp phần làm nên “diện mạo” của dân tộc để mọi người dân thật sự tin tưởng và xem đó như những giá trị văn hóa mang tính nền tảng, một “cứu cánh của tâm hồn” trong cuộc sống nhất định họ phải hoàn thiện một cách tự giác; những giá trị văn hóa thật sự mang lại niềm tự hào cho người dân trong quá trình hội nhập, giao lưu với bạn bè thế giới; và để bạn bè thế giới nhìn vào là nhận ra đó là giá trị văn hóa xuất xứ từ Việt Nam… Thật đáng tiếc, tất cả những vấn đề này thời gian qua lại ít được chú trọng, ít được xem xét một cách nghiêm túc và thấu đáo. Xin được minh chứng sự “lúng túng” này qua một số biểu hiện sau:

Thứ nhất, nói về những giá trị làm nên “bản sắc”“cá tính” riêng của dân tộc cho đến nay hầu như trong đường hướng xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới dường như chúng ta vẫn mới dừng lại ở việc hô hào một cách rất chung chung thông qua những khẩu hiệu cổ động vốn chỉ để đọc cho nhau nghe trong những cuộc họp và giăng mắc đầy khắp các hàng cùng ngõ hẻm trên khắp nẻo đường đất nước. Tiêu biểu là khẩu hiệu mà bất kỳ người người Việt Nam nào cũng được ít nhất vài lần nghe hay được nhắc nhở buộc phải nghe, đó là: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đây là khẩu hiệu rất hay nhưng rõ ràng là quá mơ hồ. Bởi thế nào là “nền văn hóa tiên tiến”, thế nào là “đậm đà bản sắc dân tộc”? “Tiên tiến” ở đây là gì, “bản sắc dân tộc” chỗ này là gì? Mỗi người dân trong cuộc sống cần suy nghĩ, hành động như thế nào thì đất nước mới thật sự có được “nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”? Có ai xác định và nói một cách thật cụ thể những điều này để ít nhất hình thành một “cẩm nang” đưa vào trường học như một pháp lệnh buộc ngành giáo dục phải rèn luyện cho các em học sinh qua từng cấp học chưa? Nhất là xem đó như là một “chiến lược” trong việc xây dựng và đào tạo con người phục vụ đất nước trong tương lai? Để các em trước khi nhận tấm vé thông hành là công dân chính thức của đất nước thì nhất định những giá trị văn hóa kia phải thấm vào xương tủy?

Hay chúng ta đã làm gì để mỗi người dân qua từng thế hệ đều thấu hiểu, tự hào với ý thức tôn trọng giữ gìn một cách tự giác nhất những giá trị truyền thống, những “tinh hoa” văn hóa làm nên “hồn cốt” của dân tộc ở từng “bộ môn” cụ thể một cách thật thuyết phục chứ không “vì lợi ích nhóm”, vì sự háo danh, sĩ diện hão… mà thêu dệt nên. Ví như: tinh hoa văn hóa của dân tộc trong văn chương nghệ thuật, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc… là gì, có những tác phẩm nào, văn nghệ sĩ nào là đáng tôn vinh nhất?; tinh hoa văn hóa trong lịch sử, quân sự, khoa học là ai, công trình gì, chiến công gì…?

Nhà thơ Chế Lan Viên vốn được xem là người làm thơ “giàu chất trí tuệ và triết lý” ấy mà lại viết ra câu thơ khái quát về dân tộc, theo tôi là chua xót và đau đớn quá:

“Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc.
Sắc tài sao mà lắm truân chuyên” (Đọc Kiều – Chế Lan Viên)

Khoan bàn đến chuyện “chiều sâu tư tưởng” của nhà thơ ở đây là gì nhưng trước hết, thi sĩ nỡ nào lấy cô Kiều (một cô gái bán hoa – mà có người không đồng cảm gọi là con đĩ) để so sánh với cả dân tộc như thế liệu có ổn không về mặt văn hóa? “Đời dân tộc”, “tinh hoa” dân tộc liệu có giống như “đời” của một cô nàng (cho dù có tài sắc đi nữa nhưng cũng thể phủ nhận sự thật trong cuộc đời mình cô đã “sống làm vợ khắp người ta”?). Chế Lan Viên vì quá yêu cô Kiều hay thầm xót xa cho dân tộc mà lại hạ bút thế này?

Một ví dụ cụ thể như trên để thấy, lâu nay chúng ta cứ nói, cứ hô hào về “tinh hoa”, về “bản sắc” văn hóa dân tộc nhưng nói thế nào cho thật sự thuyết phục, cho mọi người dân (nhất là những người trẻ) đều cảm thấy tự hào và xem đó như cứu cánh của tâm hồn họ thì gần như vẫn rất mơ hồ!

Thứ hai, trong khi vẫn chưa xác lập, vẫn chưa chỉ ra đâu là những giá trị văn hóa cốt lõi làm nên “cá tính” riêng của dân tộc để người dân noi theo nhưng chúng ta lại không thôi phát động các phong trào mang tính bề nổi. Không khó để nhận ra bất cập này qua việc khắp các hang cùn ngõ hẻm; từ thành thị đến nông thôn đâu đâu cũng thấy gắn những bảng hiệu: “cơ quan văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “hẻm văn hóa”, “phường văn hóa”, “xã văn hóa”, “thôn văn hóa”, “làng văn hóa”, “gia đình văn hóa”… Thế nhưng nghịch lý ở chỗ là đâu đâu cũng thấy kêu gọi phấn đấu “xây dựng và giữ vững danh hiệu… văn hóa” ấy nhưng trên thực tế thì hoàn toàn ngược lại, tức là đâu đâu cũng đầy dẫy những biểu hiện của sự “suy đồi văn hóa”.

Tương tự vậy, trong khi người dân nhất là lớp trẻ vẫn đang mất phương hướng trong việc xác lập “chuẩn mực văn hóa” của dân tộc để làm hành trang ứng xử với cộng đồng thì “những người sản xuất và phê bình văn hóa” lại mạnh ai nấy bày tỏ tính “duy ngã độc tôn” về vấn đề này đến mức cực đoan. Người thì bảo thủ cho rằng tất cả những gì liên quan đến người Việt mình (hay của địa phương mình) cũng đều tốt đẹp hơn so thiên hạ; cái gì của mình cũng là “nhất”. Cho nên mới có những câu “văn mẫu” rất sáo rỗng, đại loại như: “dân tộc VN có truyền thống…”; “người dân VN có truyền thống…”, “người phụ nữ VN có truyền thống…”, “thanh niên VN có truyền thống…”; “người Hà Nội là thanh lịch nhất”; “Nghệ An là đất địa linh nhân kiệt”,“Nghệ Tĩnh là đất học”, “Cần Thơ là trung tâm văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long”…. Trong khi đó, những người theo xu hướng “cởi mở” hơn thì không ngận ngại phủ nhận và xổ toẹt những giá trị văn hóa cha ông.

Có thể nói, hậu quả của những việc làm này vô tình đã gây ra những “phản ứng ngược” rất tai hại vì chỉ càng làm cho người dân nhất là các bạn trẻ càng thêm rối tung, rối mù hơn. Những người có cơ hội đi đây đi đó, trải nghiệm cuộc sống nhiều sẽ bất ngờ nhận ra tại sao người Việt mình tự nhận có nhiều “truyền thống tốt đẹp” thế kia nhưng sao trong quá trình xây dựng, đất nước vẫn cứ nghèo nàn lạc hậu; “văn hóa xuống cấp”; còn thiên hạ chẳng thấy họ hô hào có nhiều “truyền thống tốt đẹp” như mình nhưng sao đất nước họ lại giàu mạnh, người dân họ rất có văn hóa? Những người khác thì thấy, dân tộc mình cũng “không đến nỗi nào” nhưng sao có người lại phủ nhận và lên án gay gắt, quyết liệt? Vì thế, càng làm cho họ thêm hoang mang và mất phương hướng vì không biết “tin vào ai”, không biết “dựa vào đâu”, “chuẩn mực nào” để hành xử sao cho không bị xem là “lạc hậu”, “cổ hủ”, “trì trệ” đồng thời lại không bị “ném đᔓlai căng”, “mất gốc”…

Những chuyện như thế này lâu dần sẽ gây sự hoài nghi và mất niềm tin trong dân chúng ngày một tăng lên. Một khi người ta không tin thì người ta sẽ không theo và chắc chắn sẽ chọn một cách hành xử khác (có thể tích cực nhưng cũng có thể là rất tiêu cực).

Thứ ba, nói đến trách nhiệm trong việc xác lập, ổn định và tuyên truyền những giá trị, những chuẩn mực của văn hóa dân tộc hiện nay không thể không nhắc đến vai trò của ngành giáo dục. Bởi giáo dục chứ không phải môi trường nào khác chính là nơi trực tiếp “sản xuất” và gieo những hạt mầm văn hóa đầu tiên góp phần hình thành nhân cách, bồi bổ tâm hồn cho con người. Thế nhưng đáng tiếc thay dường như bản thân ngành giáo dục hiện nay vẫn chưa thật sự ý thức hết tầm quan trọng của vấn đề này! Vai trò và trách nhiệm của ngành giáo dục hiện nay đang bị bóp méo, có thể nói đây là “sự tha hóa trong môi trường lẽ ra rất văn hóa”. Giáo dục gì mà chỉ chăm chăm hướng đến việc “dạy để có thành tích”, “học chỉ để thi” cộng với việc xã hội “xem trọng bằng cấp hơn năng lực” không những đã vô tình không ươm, không gieo được những hạt giống tâm hồn cao đẹp mà còn nhanh chóng làm cho nó bị thui chột, héo úa, cằn cỗi hơn. Cho nên, hậu quả là các bạn trẻ tuy chưa rời ghế nhà trường nhưng những suy nghĩ lệch lạc do nghèo nàn về văn hóa tâm hồn; sẵn sàng cư xử bạo lực với bạn mình ngay trong lớp học; sẵn sàng “chết”“thần tượng” nào đó xa lắc xa lơ bên xứ người; hay thậm chí bắt chước người lớn tạo scandal để được nổi tiếng…

Cuối cùng, trong thời đại bùng nổ công nghệ truyền thông hiện nay, nói đến trách nhiệm văn hóa đất nước cũng không thể không nhắc đến vai trò của hệ thống truyền thông báo chí, nước nhà. Báo chí vừa là sản phẩm văn hóa đồng thời cũng là phương tiện để tuyên truyền văn hóa thế nhưng thật đau lòng mà nói, nền báo chí của chúng ta hiện nay chẳng khác gì một cái chợ đầy rác rưởi rất bẩn thỉu. Người dân nhất là các bạn trẻ vốn đã không được trang bị những chuẩn mực văn hóa cần thiết giờ lại bị tiêm nhiễm những thứ rác rưởi ấy thì thử hỏi văn hóa không “loạn”, không “xuống cấp”, không “suy đồi” mới là chuyện lạ. 

4. Thay lời kết

Con người muốn được xem là “có văn hóa” nhất định phải trải qua một quá trình rèn luyện, bồi đắp lâu dài trong một môi trường văn hóa ổn định, lành mạnh. Để xảy ra sự “loạn chuẩn” hay “lệch lạc” văn hóa như hiện nay ngoài những nguyên nhân do lịch sử để lại thì phần nhiều là do cách “ứng xử” của chúng ta hiện nay (đặc biệt là hai thành phần “sản xuất”“phê bình” văn hóa). Để kết thúc bài viết này xin mượn ý kiến của GS Trần Hữu Dũng như một lời chia sẻ và đồng cảm như sau: “Chúng ta thường trách nhà nước không nâng đỡ đúng mức, thậm chí đã kềm chế tiến bộ văn hoá, song nghĩ cho cùng, không một nhà nước nào có thể “sản xuất” văn hoá. Tất nhiên sự “can thiệp” mạnh tay của nhà nước vào văn hoá, mà lại không có một nâng đỡ nào đáng kể, là một điều đáng phàn nàn. Nhà cầm quyền, nhất là những người có trách nhiệm đối với sinh hoạt văn hoá, phải nhận trách nhiệm của mình đối với hậu thế. Chúng ta cũng thiếu những nhà văn hoá lớn. Song không ai trong chúng ta là vô can. Chúng ta quá dễ dãi với văn hoá hạ cấp, chúng ta quá thờ ơ, dửng dưng với văn hoá có chất lượng. Chúng ta không bảo tồn di sản văn hoá dân tộc. Và nói thẳng, đôi khi chúng ta, mỗi chúng ta, có những hành động thiếu văn hoá!”[3]


[1] Xin mời đọc thêm loạt bài của các nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa… bàn luận về vấn đề này trên báo điện tử Vietnamnet thời gian qua như: “Chỉ có Hà Nội mới có “văn hóa chửi”, “Tôi sợ mặt trái văn hóa hà Nội”, “Vì sao Hà Nội xấu xí như vậy?”; “Dân hà nội khinh tiền và người có tiền như thế nào?;“Văn hóa xuống cấp, Hà Nội như một cái chợ?”; “Hà Nội chưa bao giờ thanh lịch?”,“Thủ đô nghìn năm văn hiến và… “văn hóa bãi bia”… sẽ thấy rất rõ điều này.
[2] Trần Hữu Dũng, 2012, Trách nhiệm văn hóa là trách nhiệm chung, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số Xuân
[3] Trần Hữu Dũng, như trên.
Share this article :