
DÂN TỘC TÍNH LÀ GÌ?
Theo Sơn Nam, thì các học giả Việt Nam xưa gọi những tính chất riêng, cái độc đáo của dân tộc là "Quốc Hồn", "Quốc túy" và thường tự hào là "Dân Việt có bốn ngàn năm văn hiến".
1. QUỐC HỒN LÀ GÌ?
Từ Điển Hán-Việt của Đào Duy Anh định nghĩa Quốc Hồn là "tinh thần đặc biệt của một quốc dân (âme nationale).Sdd.tr.175. Nói nôm na "Quốc hồn là cái linh hồn dân tộc" là cái tinh thần yêu nuớc, thương nòi thúc đầy người dân quên mình tranh đấu cho chủ quyền đất nuớc và độc lập dân tộc, cuơng quyết hy sinh để chống các thế lực xâm lăng, đặc biệt là chống kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc...
"Hồn là gì? Người ta thường hiểu "HỒN" là phần làm chủ và điều động toàn bộ hoạt động tinh thần và thân xác của con người lúc còn sống.
Lúc con người còn sống thì HỒN và PHÁCH liên kết, quấn lấy nhau, khi người chết thì HỒN rời khỏi PHÁCH gọi là "Hồn siêu, Phách tán".
PHÁCH được xem là phần hình chất còn lại khi tinh khí cạn kiệt, là cái không tinh tuý (tức cặn bã còn lại). "Phách" là chỗ không có ánh sáng trên mặt trăng. "Tử phách là trăng mồng một".
Hồn thiêng liêng nên gọi là linh hồn. Thần và Quỷ đều do hồn hoá ra, cả hai đều linh thiêng.
Ngoài ra còn có chữ "VÍA" thường đi đôi với hồn trong tư tưởng dân gian Việt Nam. Trong Hán tự không có chữ VÍA.
Ta thường nghe nói "Ba hồn, bảy vía" và "Ba hồn chín vía". Ba hồn bảy vía dùng cho đàn ông còn Ba hồn chín vía dùng cho đàn bà. Nghĩa là nam có bảy vía, nữ có chín vía.
"Vía" là gì?
Ta thường nghe nói: "Hú vía"; "Kinh hồn, mất vía"; "Vía nặng, vía nhẹ" vân vân.
"Lưu Cung sợ uy mất vía"(BN ĐC); "Ta đã toan xây sẵn nhà vàng chờ người quốc sắc, lại muốn mượn chùm phương thảo hú vía thuyền quyên..."(Chu mạnh Trinh)...
VÍA là nơi để hồn phát huy chức năng làm chủ sự sống của con người. Vía là những biểu hiện cụ thể của hồn trong sinh hoạt hàng ngày. Do đó, khi Hồn kinh thì vía bị mất. Nói là "Hú Vía" vì khi bị mất vía, muốn tìm lại phải có cách "gọi" riêng tức là "hú" (một thứ ngôn ngữ thuộc đạo giáo như niệm chú...).
Theo tín ngưỡng dân gian, một người có "ba hồn": Vạn Pháp Thiên Tôn dạy rằng: "Thế thường người có ba hồn ấy là Nhứt Thể Tam Thân, Nhơn Hữu Tam Hồn là: Mê Hồn – Giác Hồn – Linh Hồn.
Mê Hồn là Tinh
Giác Hồn là Khí
Linh Hồn là Thần
Nhơn Hữu Tam Bửu Tinh – Khí – Thần
2. QUỐC TÚY LÀ GÌ?
Quốc Tuý là "cái hay riêng về tinh thần hoặc vật chất của một nuớc". Quốc tuý chủ nghĩa là quan điểm của những người bảo thủ, thủ cựu chủ trương bảo tồn tất cả những phong tục truyền thống (bất kể tốt đẹp hay hủ lậu) vì cho đó là "tinh tuý" của dân tộc.
Quốc tuý chỉ những gì mà một dân tộc nào đó tự hào và thế giới cũng nhận biết và công nhận là những cái mà nước đó đang tự hào là độc đáo, không có tại các nuớc khác.
Quốc tuý thường thể hiện trên những công trình kiến trúc nổi tiếng, các tác phẩm văn học kinh điển hoặc ẩm thực điển hình...( Pháp tự hào về rượu Champagne, Anh, Whisky, Nhật, Sake...)
Nghĩ về Quốc Hồn, Quốc Túy tại Việt Nam ngày nay, một nhân sĩ quốc nội đã xót xa ghi nhận như sau:
"Có thể do thời tiết, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều, rét kèo dài, luôn thích hợp với việc ăn thịt chó, mà 5 triệu con chó đã chết ở Việt Nam mỗi năm. Con số 5 triệu này do Liên minh Bảo vệ Chó châu Á (ACPA) công bố, hoàn toàn không phải bịa.
"Nước mình nó thế, cũng tại thế nên nước mình mới là cường quốc bia rượu, chứ chẳng lẽ ăn thịt chó uống nước lọc hay nước ngọt? Báo chí đưa tin thế này: Mức tiêu thụ rượu bia bình quân của những người từ 15 tuổi trở lên ở nước ta (quy đổi thành rượu nguyên chất) đã tăng từ 1,35 lít năm 2001 lên 3,3 lít năm 2007, 3,54 lít năm 2008 và 4 lít vào năm 2010, trong đó mức tiêu thụ bia tăng nhanh hơn so với mức tiêu thụ rượu.
“Theo quy hoạch phát triển ngành bia - rượu - nước giải khát Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025, mức tiêu thụ rượu bia quy rượu nguyên chất bình quân (với người từ 15 tuổi trở lên) ở VN năm 2025 có thể sẽ tăng lên 7 lít/người/năm, cao hơn mức trung bình chung của thế giới hiện nay (6,13 lít).
“Nếu cứ nhất được cái gì cũng tự hào, thì mấy vụ thịt chó là bia rượu nước mình đúng là quá tự hào rồi. Thịt chó, rượu bia, xem là quốc hồn, quốc túy... Mình bảo tồn di sản văn hóa được đến đâu không rõ, chứ bảo tồn tinh thần dân tộc riêng trong lĩnh vực này đúng là thành tựu.
...Chứ công cuộc bảo vệ di sản nước mình gian nan vô kể. Kể cả những di sản đã được UNESCO công nhận rồi, vẫn cứ nơm nớp lo mất danh hiệu. Chưa nói đến những di sản quý giá chưa đệ trình lên UNESCO, nhưng cũng là những di sản lẫy lừng, kiểu như cầu Long Biên ấy, giờ cũng đang bị đe dọa kia kìa. Cái cầu như thế, gánh vác bao nhiêu năm lịch sử, giờ cứ muốn bắt gánh thêm trọng trách của một cây cầu thời hiện đại. Người hiện đại cứ tưởng có tiền là phá quách đi xây cái cầu y hệt, một trăm năm nữa nó cũ là xong..."
“Ai cũng biết cầu Long Biên không chỉ là di tích lịch sử, là chứng nhân của bao sự kiện quan trọng liên quan đến Thủ đô, nó còn là di tích kỹ thuật. Một loại hình di tích cực kỳ hiếm ở Việt Nam. Nếu không có cầu Long Biên, hay nhà máy nước Vạn Niên ở Huế, tháp nước vườn hoa Hàng Đậu, cầu sắt Sài Gòn cuối thế kỷ 19…thì loại hình di tích kỹ thuật ở nước ta sẽ đơn thuần chỉ là mấy cối xay, giã gạo hay những cọn nước miền cao. Điều quan trọng nữa là ý nghĩa đặc biệt của cầu Long Biên với cảnh quan và sắc thái đô thị Hà Nội. Nhiều đô thị trên thế giới gắn với một dòng sông và cây cầu.
Quốc hốn quốc túy mai ngày chắc chỉ còn mỗi thịt chó rượu bia!”
Danh từ "tinh thần dân tộc" thường được đề cao khi có ngoại xâm với hàm ý "tinh thần tranh đấu bất khuất."
"Thất bại trên đường đời, kiếm không ra tiền là phạm tội lớn với gia đình, với dòng họ, với người lân cận. Rốt cuộc trong xóm nghèo, người ta lại ganh tị nhau, người này nhòm ngó khen chê người kia quá nghèo chưa biết ăn mặc. Chịu đựng sự chê bai của người giàu là dễ vì đó là sự chịu đựng gián tiếp. Gìn giữ cho người trong xóm, trong sở đừng chê bai là điều khó hơn. Cái nhìn của người láng giếng. Cái nhìn của cô bạn." (sđd tr. 40)
"Người mại bản, bọn gian thương luôn luôn kiêu hãnh vì thấy cái lối sống ích kỷ của họ trước kia bị công kích nay được phổ biến. Những người ngoan cố, thủ cựu nhất, lúc đầu (khi mới đến thành thị) thì nguyền rủa họ, nhưng lần hồi thì hàng phục, noi gương họ.
Họ và bè lũ cứ ngồi uống rượu uýt-ky, chửi đổng một cách vô trách nhiệm, công kích mọi chánh phủ rằng chánh phủ này thất bại vì không làm theo ý họ, chánh phủ kia chưa làm được gì đáng kể chỉ vì không đi sát quần chúng, không theo sát tình hình.
...Đôi khi tâm hồn trống trải, thấy người chung quanh chẳng ai chơi thật tình với họ thì họ lại nghĩ đến tình dân tộc. Khi thì họ nói: "Dân tộc là cái gì? Đó là danh từ huyền hoặc vô nghĩa trong thời đại liên lục địa, liên hành tinh... Dân tộc là gì, "khi người Việt dùng đồng hồ Nhựt, gạo Mỹ, thuốc bổ Hòa Lan, thịt đông lạnh Úc Châu, máy in Đài Loan, ván ép Đại Hàn, mặc quần áo như đầm, chơi hoa kiểng theo Nhựt, tập Yoga theo Ấn Độ và thích học chương trình Pháp hoặc học Anh ngữ, nghe nhạc Mỹ." Rồi bỗng dưng, họ trở giọng "Tôi là thằng Việt Nam, ai đụng tới thằng Việt Nam thì tôi đập bây giờ. Thế giới đã ngán thằng Việt Nam rồi. Ai chưa ngán là kẻ đó còn mê ngủ".
"Họ làm giàu nhờ chiến tranh thế mà họ lại than phiền chiến tranh hơn ai hết! Cho mình là nạn nhân của chiến tranh."
"Họ đã yêu nước đâu từ hồi 1945, có tản cư vài tháng hoặc đôi ba năm. Họ xưng là chống thực dân, họ đã quen biết, đã nuôi nấng hoặc đã gặp một vài nhà cách mạng tiền bối nào đó. Kháng Pháp đối với họ chỉ là một mớ hồi ký, giai đoạn lụn vụn, vừa bi ai vừa buồn cười...Chỉ là giai thoại vì không biết tổng kết thế nào cho ổn.
Đối với cuộc chiến hiện tại, họ đóng vai trò một ông trời con để phê phán, chấm điểm cho cả đôi bên... Họ không đủ thông minh để thông cảm với những chiến sĩ vô danh. Nhìn vào đại cuộc, họ phê phán các nhân vật ở Âu-Mỹ, ở Việt Nam, họ cho rằng ai cũng hành động vì động cơ ích kỷ như họ. Và người làm cách mạng cũng là người ích kỷ. Rất may là họ ít chịu làm chính trị, họ chỉ thích làm ap-phe, khi cần tranh thương hoặc đầu cơ, đuổi nhà, đuổi đất thì cứ tiến hành một cách lạnh lùng - tiến tới rồi đính chánh sau.
"Thỉnh thoảng họ bàn bạc về văn nghệ, gặp đám tiệc liên hoan, họ nhảy nhót và uống rượu hết mình. Họ xem văn nghệ sĩ là bạn thân, họ phục tài các văn nghệ sĩ để chứng tỏ họ đâu phải là kẻ phàm phu tục tử, nhưng thứ văn nghệ mà họ ưa thích là khiêu vũ, thoát y vũ..." Chính vì vậy mà các nữ ca sĩ bên Việt Nam ngày nay thường phô bày càng nhiều da thịt trên sân khấu càng nổi tiếng, trang phục càng mỏng manh, càng xuyên suốt, càng lộ hàng kín thì càng đắt mối... rồi từ gợi dục (hở hang không phải là gợi cảm mà là gợi dục thân xác) đến bán dâm chỉ một bước ngắn...
Có người cho rằng người Việt Nam gồm ba con người khác nhau ghép lại:
1. một thằng bồi
2. một kẻ nghèo đói
3. một người kiêu hùng coi thường tất cả Tây, Tàu...
Tùy theo tỷ lệ lắp ghép, thành phần nào trội thì nhân cách đó nổi bật lên.
Thế nhưng, nếu thành tố "bồi" quá lớn thì nó trở thành nô lệ rồi, kiêu hùng chỉ còn là cái bóng dật dờ. Nếu "kiêu hùng" vượt trội thì nó đâu còn chịu làm bồi! Thành tố nghèo đói chỉ là tạm thời. Nhiều người xuất thân nghèo đói đã trở nên hận thù xã hội và rắp tâm trả thù. Họ rất hùng biện khi nói chuyện nghèo đói và phê phán xã hội là bất công, nhưng họ thường đứng về phe gian thương, về phía các đại gia...
Trong cuốn "La foule solitaire" nhà xã hội học Pháp David Riesman (NXB Arthaud, Paris 1966) đã phân tính chất con người ra làm ba loại:
1. Loại người do khuôn thước cổ truyền đào tạo, tự nhận là một bộ phận của xã hội, của gia đình. Vua bảo chết là chết; khi chồng chết vợ vui vẻ lên giàn hỏa để chết theo (thời phong kiến Trung Hoa và một số bộ lạc kém văn minh...)
2. Loại sống theo tư tưởng cá nhân, lo lập nghiệp, kinh doanh, tìm cách để đạt mục đích riêng (ý thức tư bản, anh hùng cá nhân...)
3. Loại người sống theo dư luận xã hội: ăn ở, đi đứng, hành xử theo thời, theo quy ước xã hội (đây là thời kỳ tiện nghi vật chất lên cao, sự hưởng thụ được khai thác tận cùng (thời trang, thói đua chen, khoe khoang, vấn đề sỉ diện...giai đoạn "vong thân")
Thử ứng dụng lối phân loại trên đây vào con người Việt Nam:
1. Luân lý cổ truyền và chế độ quân chủ kềm hãm, cá nhân chỉ là cái bóng mờ, con người giai đoạn này gắn liền với thiên nhiên quê hương (không rời "nơi chôn nhau cắt rốn", xem triều đại là quốc gia, nghe tiếng chim "đa đa" mà nhớ nhà, nghe tiếng cuốc kêu mà thương nước... con người hòa vào với vũ trụ). "Có trung hiếu mới đứng trong trời đất"
2. Khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương, con người bắt đầu khẳng định "cái Tôi" theo khuynh hướng lãng mạn Pháp. Cá nhân tưởng mình có quyền năng như Thượng Đế, cái Tôi trở nên vô cùng to lớn: "Tôi muốn buộc gió lại, cho hương đừng bay đi" (Xuân Diệu); "Tôi muốn mùi hương của nước hoa, mà cô thường xức chẳng bay xa..." ( .....); "Ta muốn đeo vòng thư kiếm quyết xoay bạch ốc lại lâu đài..." (Cao Bá Quát).
3. Khi hiện tượng xã hội hóa lên cao, con người không còn là TA, là TÔI nữa mà đã trở thành những "Khuôn Mặt" (Figures); những "Nhân Vật". Người ta đi "lập thuyết", sáng tạo thể chế... Nhưng vì có chữ "khuôn" bao hàm ý nghĩa "có công thức từ căn bản" cho nên con người giai đoạn này cố vùng vẫy, giãy dụa để ra khỏi khuôn thước nhằm làm cho mình "độc đáo" và thế là "độc đáo" trở thành phong trào chạy theo công thức mới, giai cấp mới, chạy theo thời... Từ đó, cá tính bị hao mòn rồi mất hẳn một cách vô thức...Cái Ta chìm vào tập thể như hạt muối hòa vào nước biển...
Khi chợt thấy cái Ta bị hòa tan thì con người kinh hoàng và vùng dậy để tìm lại cái Tôi, cái cá tính, tìm cuộc sống với lý tưởng riêng, sáng kiến riêng và dĩ nhiên là thân phận và tính mạng cũng riêng (Phong trào triết lý Hiện Sinh).
Thử tìm hiểu xem, đa số con người Việt Nam hiện nay đang ở trong giai đoạn nào? "Không Ta"; Ta và Cái Tôi vĩ đại? hay Khuôn mặt?
Trước hết, nên biết rằng "Không Ta"; Ta và Cái Tôi vĩ đại hay Khuôn mặt" đều mang trong nó những ưu điểm và khuyết điểm, những cái lợi và cái hại.
Thực trạng và tình thế Việt Nam hiện nay thật vô cùng phức tạp. Sau 70 năm, chủ nghĩa cộng sản đã đưa mức sống của đất nước đến chỗ "tụt hậu" so với các nước láng giềng ở Đông Nam Á (như Thái La, Singapore, Malaysia, Ấn Độ...). Về mặt tinh thần và đạo đức, xã hội đang băng hoại, con người đang bị tha hóa, vong thân trong nếp sống vật chất, hưởng thụ, khoe khoang...(được báo chí vô tư "ca tụng" và xem như là người "siêu việt", mô tả như là "kẻ tài năng" dù cho đã dùng tài năng ấy để làm chuyện phi pháp và lãnh án tù...)
Vào thập niên 1980, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã viết vở "Tôi và Chúng Ta". Vở kịch này minh họa sự mâu thuẫn và cuộc xung đột giữa cái "Không Ta" và cái "Tôi". "Không Ta" tức là "Chúng Ta" là cái chung, cái tập thể, không có cá nhân.
Cuối cùng cái Tôi đã thắng. Sau một thời gian dài bị buộc phải xem "tập thể là chính, là trên hết, là quan điểm", con người đã âm thầm hoặc công khai tìm lại cá nhân mình và cá nhân chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ. Bằng chứng là trong một nền kinh tế yếu kém, lệ thuộc ngoại thương, ngoại bang, nhiều người bỗng nhiên trở nên giàu có, được báo chí phong là "đại gia" rối tiêu ngoại tệ như nước, mua xe hơi gọi là "khủng" trị giá "triệu đô"...Nhiều người tự xây "Phủ" rồi "Biệt phủ" trị giá hàng trăm tỷ...Co nhiều cái tôi mang ngoại tệ đi "mua đứt một thị trấn của Mỹ" với giá $900.000, để được lên mặt báo chí Mỹ!
Có tiền thì khoe tiền, có xe thì khoe xe, có thân hình đẹp, khêu gợi nhục dục cũng phô bày hết ra khắp nơi...(nhiều hoa hậu, hoa khôi, ca sĩ, người mẫu... đã trở thành người mãi dâm hạng đắt tiền...có người không may đã rơi vào tù tội...)
Khi cái Tôi đã vùng dậy thì chuyện sĩ diện, ham danh muốn trở thành "Khuôn Mặt" tất nhiên sẽ đến ngay lập tức. Đây là giai đoạn cá nhân tìm các vượt ra khỏi cái khuôn mẫu đơn điệu nhàm chán để đi tìm cho mình cái tính độc đáo, không giống ai...khiến cho xã hội có thêm nhiều chuyện lố bịch, chướng tai gai mắt...Nhiều ca sĩ, nghệ sĩ trong nước đã thêm vào tên mình một tên Mỹ, Tàu, Nga hoặc Ý... cho oai thêm. Ăn mặc khiêu dâm táo báo cũng là một cách mà nhiều ca sĩ Việt trong nước cho là "độc đáo"
Họ có biết đâu "Dưới ánh mặt trời, không có gì là mới lạ cả" (Nihil novi sub sole!) Cái mà họ tưởng là mới, là táo bạo, là cá tính ấy đã từng có và từng xảy ra trên thế giới từ xa xưa rồi... Sống theo dư luận bên ngoài thì mất cuộc sống nội tâm, bị vong thân rồi vong bản. Chạy theo vẻ đẹp thân xác thì mất vẻ đẹp tâm hồn là thứ cần thiết cho cuộc đời đích thực. Một thân xác đẹp, hấp dẫn chỉ thỏa mãn đôi mắt, bàn tay, trong lúc một tâm hồn cao thượng làm thỏa mãn con tim, ấm áp tình người
Tóm lại
Dân tộc tính, Văn hóa dân tộc là những vấn đề cụ thể, ở trước mắt... nhưng cũng rất trừu tượng cho nên mỗi người có thể hiểu hơi khác nhau. Nhiều người vì quá ưu thời mẫn thế, quá thương dân tộc và đất nước đã uất nghẹn thở dài trước hiện tình xã hội Việt Nam, đôi khi có ý muốn từ bỏ những ràng buộc với văn hóa cổ truyền, nhưng thực tế lại không làm nổi, phải gìn giữ...Và khi sự đe dọa phân hóa quá mạnh thì nhiều người Việt lại muốn bám vào "dân tộc tính" để tìm chỗ đứng trong quần chúng. Từ những chính khách tìm địa vị, vinh thân đại gia đến những người "làm văn nghệ mới" đều luôn miệng nói hai tiếng dân tộc.
Người Việt Nam đã trải qua hai cuộc thí nghiệm lớn và lâu dài của hai khối trên thế giới về chiến tranh cũng như về tư tưởng, triết lý. Dân số ít, tài nguyên nghèo, "nhiều tiến sĩ, kỹ sư nhưng tăm xỉa răng và đinh ốc đều phải nhập cảng...", vóc người không cao hơn ai... nhưng qua các cuộc thí nghiệm từ thời thượng cổ đến nay, người Việt Nam có đủ thẩm quyền để xưng là một "văn hiến chi bang" nghĩa là một quốc gia có nền văn hiến riêng.
Người Việt Nam thường có những tính chất như:
1. Sống hòa hợp với thiên nhiên, đa thần giáo nhưng không hoàn toàn mê tín, chỉ là thích ứng với hoàn cảnh để sinh tồn.
2. Sống có lý tưởng nhưng không ích kỷ, độc đoán. Vì đất nước nghèo, nên mục đích chính là làm thế nào để được ăn no, mặc ấm, được học hành mà vẫn giữ được giá trị đạo đức và nhân cách.
3. Biết mình, biết người, đã quen gian khổ và đường dài nên thường bình thản, kín đáo... đôi khi "tự trào", "khôi hài" để tự "trấn an".
4. Khi đồng loại gặp khó khăn, hoạn nạn thì mở rộng các cửa để dung chứa...
Cũng có người than phiền rằng "người Việt có thói ưa ăn cắp vặt, thiếu thành thật, che dấu cảm xúc và tình cảm, giả đạo đức, trước mặt người khác thì tỏ ra, làm bộ lễ độ, kính nể hoặc sợ hãi khép nép, nhưng sau lưng hoặc ngay sau đó thì nguyền rủa, chửi thề...
Nhưng vào thế kỷ thứ 19 và 20, thế giới loài người đã ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam đã từng làm được nhiều chuyện lớn kể từ thời Hùng Vương lập quốc, đó là đánh tan nhiều đạo quân xâm lăng mạnh hơn gấp hàng chục lần, rồi đánh thực dân Pháp một cách kiên trì, với nhiều gian khổ và hy sinh, với lòng yêu nước mà một số dân tộc nhược tiểu khác không có.
Việt Nam đã nhiều phen chịu đựng chiến tranh, nay đã hết chiến tranh bom đạn. Trong cảnh thanh bình, họ đang nhập cảng nếp sống ngoại lai từ Tây, từ Tàu, từ Mỹ...Tuổi trẻ trở nên lai căn, xã hội thành điếm đàng, đểu cáng... Nhiều trí thức Việt Nam tại quốc nội cũng như hải ngoại đang lo ngại trước hiện trạng dân tộc bị tha hóa vì các tư tưởng triết học đã nhập cảng từ gần trăm năm trước và hiện nay là giấc mơ Mỹ, là hành trình đi trồng cần sa...họ nhận thấy cần phải duy trì văn hóa dân tộc, cần làm một cái gì đó để tìm lối đi cho dân tộc...Nhưng biết làm sao đây? Khi một số nhà giáo dục có học vị tiến sĩ đã viết sách "dạy kỹ năng sống cho học sinh lớp một" bằng trò xiếc đi chân trần trên mảnh vỡ thủy tinh nói là để "rèn lòng tự tin", "vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân" khiến phụ huynh phát khiếp... nhưng gần 10 năm sau Bộ Giáo Dục VN mới biết nhờ sự tố giác trên internet...
Tuổi trẻ Việt Nam đã gào lên Việt Nam tôi đâu? Vì họ đang ly hương trên chinh đất nước mình.
Kính thưa quý khán, thính giả, đây là một đề tài nóng bỏng, cấp thiết đối với hiện tình xã hội Việt Nam, đặc biệt là ở quốc nội, mong tất cả chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm và tìm hiểu thêm để có một định hướng rõ ràng hơn về Dân Tộc Tính Việt Nam.
NGUYỄN CHÂU
Xem thêm: Xin nói thẳng, không có bản sắc dân tộc Việt Nam “hiện đại”; Tại sao khó có thể tự hào là người Việt Nam?
NGƯỜI VIỆT CÓ DÂN TỘC TÍNH KHÔNG?
Xem thêm: Xin nói thẳng, không có bản sắc dân tộc Việt Nam “hiện đại”; Tại sao khó có thể tự hào là người Việt Nam?
NGƯỜI VIỆT CÓ DÂN TỘC TÍNH KHÔNG?
LỜI NÓI ĐẦU
Bàn về dân tộc tính, về tinh thần
dân tộc là điều khó khăn, tế nhị. Khó từ cách định nghĩa đến cách đưa ra bằng
chứng, trong thời buổi nhân tâm ly tán nầy, người ta thường đồng ý nhau về danh
từ nhưng lại cãi vã nhau khi áp dụng lý luận vào thực tế.
Nói tổng quát về Trần Hưng Đạo,
Quang Trung, Phan Bội Châu thì lần hồi trở nên nhàm chán. Nói về cách uống trà,
lễ Nam Giao, nước mắm Phú Quốc thì dường như tiêu cực, lẩm cẩm không làm thỏa
mãn những người đang sốt ruột. Cây cổ thụ vươn lên trời, rễ ăn sâu vào lòng đất
hút chất phân. Nói riêng về cây cổ thụ hoặc nói riêng về chất đất thì dường như
phiến diện, điều quan trọng là giải thích sự liên quan giữa chất đất và màu
xanh của lá cũng như giải thích việc cúng đình, lễ chùa, cấy phát vần công có
ảnh hưởng như thế nào đến tài hoa và thái độ kiêu hùng của vua Quang Trung,
liệt sĩ Nguyễn Thái Học.
Bởi vậy, tập sách này chỉ là khởi
thảo. Người viết cố nắm bắt lấy vấn đề nhưng vẫn không nắm vững, nhiều đoạn quá
dài, vô ích, lặp đi lặp lại trong khi nhiều đoạn cần thiết, có tánh cách quyết
định chỉ được nói sơ qua. Dám mong đây là mớ tài liệu rời rạc - một đống xà bần
- nào gạch bể, ngói vụn, cây gẫy, trong đó có vài món đáng chú ý, có thể xài
được, đáng xem thử.
Tháng 11 năm 1967
SƠN NAM
*****
Dân tộc tính là gì?
Danh từ "dân tộc tính"
dường như chỉ xuất hiện từ năm 1945 và được bàn cãi từ đó về sau, kèm theo danh
từ "cá tính dân tộc", "văn hóa dân tộc"?
Nếu chúng tôi không lầm thì trước
kia các nhà văn hóa vẫn thắc mắc, tìm hiểu dân tộc tính Việt Nam nhưng họ dùng
danh từ hơi khắc, thí dụ như:
- Quốc học, quốc hồn, quốc túy.
- Bốn ngàn năm văn hiến.
Danh từ "tinh thần dân
tộc" được nhắc nhở đến, khi bàn về dân tộc tính. "Tinh thần" là
ngụ ý tinh thần tranh đấu chống ngoại xâm: chiêu hồn nước, khóc quốc hồn.
Chính trị và văn hóa lại dính
liền với nhau như trường hợp phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, do các nho sĩ đề
xướng hồi đầu thế kỷ.
Nhiều người tạm định nghĩa dân
tộc tính là tính chất đặc biệt của dân tộc. Dân tộc ta có gì khác, trong thói
ăn nết ở, trong cách thức xây dựng nhà cửa, trong nếp suy tư? Để giải đáp, họ
cho rằng dân Việt bắt chước giỏi, có óc châm biếm hài hước, cần cù siêng năng,
mang cái tâm trạng hơi buồn buồn. Nhiều nhà khảo cổ Tây phương nghiên cứu kỹ
lưỡng để xem người Việt có gì đặc sắc so với người Ai Cập, người Tàu, người Ấn
Độ căn cứ vào di tích, vào những gì mà ngày nay còn chụp ảnh được, đào xới
được, đọc được. Triết lý Việt Nam gần như không có gì rõ rệt (tổng hợp Tam
giáo), muốn nghiên cứu thì nên qua Trung Hoa, Ấn Độ, nhìn Hy Mã Lạp Sơn, Tây
Tạng hoặc rừng núi tỉnh Sơn Đông, dòng sông Hoàng Hà. Những bản kinh kệ xưa
nhứt là ở miền Ấn Độ, cái sọ ông Bàn Cổ ở mãi tận miền Bắc Trung Hoa.
Người Việt mô phỏng vụng về mọi
triết học, mọi hình thức văn hóa, mọi kỹ thuật. Người Tây Phương với tình cảm
lãng mạn, với lòng yêu mến thiên nhiên đã hăm hở xuống thuyền để vượt đại
dương, tìm chân trời mới, tìm thảo mộc, tìm văn hóa xa lạ, xa lạ đối với họ.
Nhà thám hiểm và thương gia đi trước, vào thế kỷ thứ 18, những đội binh viễn
chinh theo sau. Đến vùng đất mới miền gió mùa, họ tập tành làm văn sĩ, làm nhà
khảo cổ, nghiên cứu về văn học, nhân chủng. Bao nhiêu đề tài hiện ra, cứ viết,
cứ sưu tầm, vẽ tranh sơ sài là gây được dư luận, trở thành ngón bút "ăn
khách", giúp cho đồng bào chánh quốc mua vui một vài trống canh.
Người Tây phương bắt đầu làm quen
với nhiều địa danh, nhiều thiên đường mới: những điệu vũ Bali (Nam Dương), cách
uống trà Nhựt, những đền đài Đế Thiên Đế Thích, tiếng nói của đá Kim Tự Tháp,
những đồ gốm Càn Long, hoặc đồ đồng thời "Trụ mê Đắt Kỷ", kho tàng
vua chúa Mễ Tây Cơ, Nam Mỹ Châu. Những người giàu thiện chí, giàu lòng nhơn đạo
nằm nhà ở Tây Phương dạo ấy như dửng dưng, sống êm ấm, có vài phản ứng xót
thương không đáng kể đối với thế giới nhược tiểu. Chuyện xa ở Đông Á thì đã
đành. Đến như chuyên buôn người ở Phi Châu, dường như họ không thấy lương tâm
cắn rứt cho lắm.
Và trong cái thế giới thiên nhiên
với muôn hồng nghìn tía ấy, dưới mắt người Tây Phương, rõ ràng người Việt Nam chẳng
có gì đáng kể, về hình thức. Người Nhựt, người Tàu, người Ấn Độ, người thiểu số
Cao Nguyên, bộ lạc ăn lông ở lỗ ngoài hải đảo Thái Bình Dương đáng chú ý hơn. Ở
dải đất Đông Dương này thì quyền ưu tiên dành cho Đế Thiên Đế Thích, nghệ thuật
Chiêm Thành, hoặc cánh đồng rải rác những cái chum bằng đá ở Lào. Việt Nam
thuộc vào hàng thứ yếu, tuy trụ sở hành chánh toàn xứ Đông Pháp được đặt tại Hà
Nội và trụ sở thứ nhì ở Sài Gòn.
Thực dân theo dõi sanh hoạt người
Thượng ở Cao Nguyên Trung phần, có lẽ vì chính trị, chiến lược hơn, dưới mặt họ
số người Thượng này chỉ là người thổ dân ở hải đảo Nam Dương, không gì là độc
nhứt vô nhị. Đến như người thiểu số Mán, Mèo, Thái ở vùng Cao Bằng cũng thế,
chỉ là những nhánh nhóc của nhóm người từ rừng núi Vân Nam. Trong việc sưu tầm
văn hóa, người Pháp đã tặng cho người Việt vài lời khen an ủi: sọ người ở Hòa
Bình, trống đồng Thanh Hóa, lăng tẩm Huế, tượng nhà sư Minh Hạnh. Trước khi rút
lui, người Pháp phát giác thêm những di tích ở đồng bằng Hậu Giang về nước Phù
Nam, tại thương cảng Ốc Eo (núi Ba Thê - An Giang).
Thật là nghèo nàn, dưới mắt họ:
vài tập tục lai căn, hoàn toàn vay mượn từ Trung Hoa, Ấn Độ với ngày Tết Nguyên
Đán, Tết Trung Thu, tục lệ quan hôn tang lễ, bùa phép.
Khi tổng kết văn hóa Đông Á,
người Tây phương nói rất ít về Việt Nam hoặc không nói tới. Cuộc Nam tiến của
dân Việt chỉ là hiện tượng chung. Thái Lan, Tàu, Miến Điện đều có cuộc Nam tiến
để tìm đất sống. Đôi khi, người ta tóm tắt trong vài hàng khoảng thời gian từ
đời Hùng Vương đến đầu nhà Nguyễn, để nói vài dòng về giai đoạn tiếp xúc với
Tây Phương.
Văn hóa Việt Nam phải chăng là
thứ văn hóa vay mượn vụng về, không đến nơi đến chốn, là học trò của Trung Hoa
thời xưa? Người Nhựt biết sáng tạo nên họ có chữ viết đặc biệt, có đạo Phật
mạnh mẽ, có đồ gốm độc đáo.
Tuy nhiên, các nhà khảo cứu hơi
lúng túng, giải thích không rành rọt tại sao người Việt không bị đồng hóa với
Trung Hoa, còn đánh thắng được quân Mông Cổ, quân Minh.
Họ tạm nhìn nhận rằng đân Việt có
sức sống, không mạnh cho lắm vì nếu mạnh thì người Pháp đã bị đánh hất rồi.
Suốt thời gian đô hộ, người Pháp duy trì quan niệm tự tôn, mua chuộc được một
số quan lại, tay sai đắc lực. Họ muốn thương hại người Việt nhỏ bé như cha
thương con, nếu họ không đến thì có lẽ nước Việt sẽ hoang vu, đa số mù chữ, đàn
ông đàn bà để tóc, ăn trầu, đàn ông là nhà quê, đàn bà là Thị Ba, Thị Tư thiếu
vệ sinh, ưa uống rượu, mê tín, điểm đáng than phiền nhứt là người Việt ưa ăn
cắp vặt, thiếu thành thật, che giấu tình cảm (hypocrite), trước mặt thì đóng kịch
sợ hãi, sau lưng thì chửi thề. Đúng là tâm lý của bọn cu-li. Người Việt du học
bên Pháp dễ bị nhận lầm là người Tàu. Có người Pháp lại nhớ mang máng rằng Sài
Gòn ở gần Hồng Kông, Thượng Hải, từ nơi này có thể đi xe hơi vài giờ đồng hồ
đến nơi kia.
Người ta đã ngạc nhiên khi thấy
người Việt Nam làm được chuyện lớn là đánh thực dân Pháp, đánh với tinh thần
bền bỉ, với trình độ khoa học, với lòng yêu nước gần như ít dân tộc nhược tiểu
nào có.
Nếu người Việt đánh thắng, chỉ
đánh một trận thì có thể là cầu may, như tình cờ trúng số độc đắc. Nhưng lịch
sử hồi 1945 là một thứ lịch sử dài, một năm sẽ được hậu thế ghi chép bằng mười
năm, nó không phải là chuyện cầu may vì người Việt tiến từ thấp đến cao, trong
khoảng thời gian ngắn và giờ đây dường như họ đang chịu đựng đau thương cho
toàn thể nhân loại.
Ông Nguyễn Trãi, trong bài Bình
Ngô Đại Cáo nhắc đến (theo bản dịch của Trúc Khê):
Nước Đại Việt ta
Nền văn hiến cũ
Non nước cõi bờ đã khác
Bắc Nam phong tục vẫn riêng
Cơ đồ dựng trải Triêu, Đinh, Lý, Trần...
Cho nên:
Lưu Cung tham công mà phải thua
Triệu Tiết muốn lớn càng mau mất
Toa Đô bị bắt ở bến Hàm Tử
Ô Mã phải chết ở sông Bạch Đằng...
Để xác nhận người Việt Nam so với
người phương Bắc (Trung Hoa) "cõi bờ đã khác, phong tục vẫn riêng". Nền
văn hiến cũ đối với ông là yếu tố khiến người Việt thâu nhiều chiến thắng quyết
định, vạch rõ cõi bờ. Ông Nguyễn Trãi không nói rõ với nền văn hiến cũ, người
Việt mang cá tính, phong tục riêng rẽ cụ thể như thế nào - cách ăn uống, cưới
hỏi, cách thức cày ruộng, xây cất nhà cửa, đình chùa. Ông Nguyễn Trãi là nhà
thơ. Lòng yêu nước được ông nói gọn trong hai tiếng "non nước". Chắc
chi thiên hạ đời nay, mà đem non nước làm rầy chiêm bao.
Non nước là chuyện non nước, là
sức mạnh có thể làm giựt mình thức giấc những kẻ đang sống trong chiêm bao,
cuộc sống ổn định giả tạo, thoáng qua thời quân Tàu đô hộ. Và chính "non
nước" đã đánh tan quân Tàu. Non nước là văn hiến cũ, cũ trở thành mới với
Bình định vương Lê Lợi.
Một luận điệu mới: nói đến lịch
sử, nói đến văn hóa cổ truyền là lỗi thời, là chưa thấy hoàn cảnh hậu bán thế
kỷ Hai Mươi của nền văn minh phồn thịnh, tràn ngập sản phẩm để tiêu thụ, hưởng
thụ. Khảo cứu truyền thống văn hóa là chuyện lẩm cẩm. Lẩm cẩm vì nó không đem
lại tiền bạc. Học sinh giỏi Việt văn, giỏi về sử địa chưa chắc thi đậu. Muốn
thi đậu, người ta chỉ cần lo luyện thi Toán-Lý-Hóa. Khảo cứu văn hóa chỉ cần
thiết và không lẩm cẩm khi bài vở được dịch ra ngoại ngữ, xem là tài liệu cần
thiết cho người ngoại quốc "tìm hiểu" nước Việt Nam.
Nói đến văn hóa, lịch sử Việt Nam
lúc nầy là "đâm hơi" làm rầy giấc chiêm bao của nhiều người. Chạy gạo
không đủ thời giờ, hơi đâu làm chuyện văn hóa, trừ phi nghe chuyện văn hóa,
nghe một cách êm ái, muồi mẫn, qua tân nhạc vọng cổ - lúc nằm trong tiện nghi
vật chất để tìm tiện nghi tinh thần! Thời chiến, nên nói một cái gì mới ngoài
cái văn hiến bốn ngàn năm với cây nêu ngày Tết, cái khăn đóng áo dài và những
bộ sử bị mọt mối gặm nhấm. Ngoài Truyện Kiều và Lục Vân Tiên. Ngoài thuyết Tam
giáo đồng nguyên. Các cụ ngày xưa đã làm cho nước nầy mất cũng vì quá tin vào
bốn ngàn năm văn hiến. Thời ấy, người Việt Nam có đầy đủ dân tộc tính, không bị
lai căn, đầy đủ văn hóa cổ truyền với ông đạo sĩ luyện phép trường sinh, với
người nông phu đi cày mồ hôi thánh thót như mưa, với ông vua bài ngoại, xem
người Tây phương như "quỷ trắng", với nông thôn tự trị.
Cách mạng năm 1945. Hay lắm, toàn
dân biết rồi. Bây giờ là khác, từ năm 1954 đến nay, giai đoạn sau đã kéo dài
hơn 10 năm và để cho có vẻ trầm hùng, nên cộng với giai đoạn trước để gọi là
trên 20 năm tang tóc. Nhưng giai đoạn 1954 đến nay khác hơn giai đoạn trước.
Người ta bước vào thời kỳ liên lục địa để cùng hưởng thụ một thứ văn minh sung
túc, với vô tuyến truyền hình, bếp điện, xe gắn máy, thuốc xịt muỗi, với thân
thể đàn bà, với thần tượng mới. Coi chừng bị thời cuộc đào thải đó!
Chúng ta nên đi tiên phong, nói
đúng hơn là theo đường lối tiền phong của văn nghệ... Pháp. Sưu tầm sử liệu,
tìm hiểu dân tộc tính là thiện chí nhưng nên dành công việc đó cho chuyên viên
UNESCO, cho Asia Foundation, họ có tiền, có chuyên viên, có phương pháp khoa
học. Cả nhân loại đang chạy theo nền văn minh mới, hòa đồng. Phải xóa bỏ ranh
giới thì mới hiểu nhau vì dân tộc này dính vào dân tộc khác, từ hồi tiền sử.
Không nước nhỏ nào không thiếu nợ, không lãnh viện trợ mà tiến được. Đèn néon
chiếu sáng khắp nơi. Đang trù liệu kế hoạch đề phòng nhân loại đang lâm vào nạn
nhân mãn. Viễn ảnh của bịnh ung thư. Nên chú tâm vào vấn đề phân tâm học vì từ
hồi nằm trong bào thai, ai cũng mang mặc cảm, ai cũng yếu thần kinh. Nếu muốn
nghiên cứu trở về quá khứ thì nên xoay qua ngành xem tử vi, bói bài cào, cứ
phối hợp tử vi các nước trên thế giới với ngành "tử vi dân tộc".
Ngôn ngữ con người đã thay đổi,
mẹo luật văn phạm xưa hết thích hợp rồi. Bây giờ là tín hiệu, là biểu tượng
mới. Thời gian đã ngưng đọng. Quá khứ bị cắt đứt, tương lai thì lờ mờ. Âm thịnh
dương suy, gần ngày tận thế vì thế chiến thứ ba có thể bùng nổ trong ngày mai,
hoặc lát nữa. Cái lương tâm lẩm cẩm không ích gì hết. Cù lần. Gàn. Không thực
tế. Không chịu chơi. Con người là con cua, con sên. Quan niệm về giai cấp đã
lỗi thời. Xã hội bây giờ đi đến điều hòa giai cấp, thí dụ như ở các nước có nền
kỹ nghệ mạnh. Chánh trị là ngành chuyên môn dành cho người đã tốt nghiệp về
chánh trị học. Thỉnh thoảng, nếu thấy hơn buồn, hơi bất mãn thì nên kêu lên
"Ôi quê hương đau thương thành chai đá!". Và nguyện cầu Thượng đế. Và
kêu réo Mẹ Việt Nam. Chữ nghĩa muốn khỏi bị đào thải thì nên chứa đựng nội dung
mới. Muốn diễn tả tâm tư thế hệ thì nên theo thứ văn phạm mới. Cô độc quá. Cô
độc là sang trọng. Nếu cảm thấy cô độc thì bạn đã chạy theo kịp trào lưu thế
giới trong cuộc chuyển mình vĩ đại của thế kỷ này qua thế kỷ sắp tới.
Cô độc là bịnh của tương lai nhân
loại. Nhưng ngày qua ngày, cô độc trở thành bịnh của quá khứ, như kiểu áo, như
kiểu xe hơi bị phế thải sau khi ra lò. Giữa năm 1967 nên mua tấm lịch 1968 cho
sớm, mặc đầu đến đầu năm 1968 thì tấm lịch đã đóng bụi. Giờ đây các dân tộc
trên thế giới đều mang một bịnh như nhau. Đừng ganh tị với các cường quốc rồi
chửi rủa họ. Vì họ cũng đang bi đát, con người họ đang phá sản về tinh thần,
chới với trong "cái hố thẳm của tư tưởng". Nếu mình thành thật với
mình, mình cũng đi tới một kết luận như họ. Con người gặp nhau, với nụ cười xã
giao. Như hai con cá lội trong bồn, với miếng kiếng ngăn đôi. Bây giờ, buồn nôn
là vừa. Trước sau gì người Việt cũng buồn nôn, luật trời tránh sao cho khỏi. Và
tại sao ta không kêu lên tên các triết gia Âu Châu, gợi lên hình ảnh xác thịt
của các hoa hậu Âu châu, từ bây giờ, kẻo trễ. Vì so với các nước trên thế giới,
chúng ta đã trễ nải, dùng vô tuyến truyền hình, dùng nồi điện, máy giặt quần
áo, dùng bồn tắm cũng trễ nải.
Một số triết gia Tây phương thú
nhận từ lâu rằng trên thế gian nầy không phải chỉ có một nền văn minh duy nhứt
của Tây phương. Nền văn minh nầy đang "xế tà" sau khi mọc lên rồi
đứng bóng ngay giữa bầu trời. Nghĩa là cái khuôn vàng thước ngọc Tây phương đã
lỗi thời, không phát huy những giá trị của con người, luôn cả con người Tây
phương. Sự may mắn của Tây phương, hiện nay là sống trong cảnh thanh bình,
không bị ngoại xâm, không có nội loạn (nội loạn võ trang). Họ có đủ thời giờ
phân tích, tìm tòi, cãi vả, đem sợi tóc chẻ làm tư để hiểu tại sao họ suy đồi,
hoặc họ suy đồi tức là đang tiến lên theo một kiểu khác. Cuộc cãi vả ấy không
làm cho họ mất nước vì các dân tộc nhược tiểu làm sao đủ sức đem binh đến đánh
họ, tại nhà họ?
Ở Việt Nam thì khác, Việt Nam
đang chịu đựng chiến tranh và đang nhập cảng triết học, nhập cảng nếp sống Tây
phương ngay lúc chiến tranh. Người trí thức Việt Nam đôi khi thấy mình cần vạch
một lối đi dân tộc, khác với Tây phương nhưng vạch với kỹ thuật Tây phương.
Làm sao cho ra?
Nếu vạch không ra thì dễ quá, cứ
mời chuyên viên văn hóa Tây phương đến giúp, ta học hỏi thêm với họ, làm chuyên
viên cho họ! Mãi đến nay, nhiều học giả Việt Nam vẫn nghiên cứu với tinh thần
khoa học Tây phương, biên soạn, sưu tầm tài liệu dường như với mụch đích trả
bài, làm một thí sinh của đại học đường Tây phương, soạn luận văn để mà giựt
lấy bằng cấp đem về giúp Tổ quốc. Người Việt Nam nói chung, những người đang
chịu khổ, đang suy nghĩ về đất nước nhìn số học giả nói trên với thái độ kính
nhi viễn chi. Số học giả này đã hiểu thân phận của họ, đã thấy phản ứng của số
học sinh mà họ đang dạy tại nhà trường; phản ứng về lối dạy, về phương pháp
nghiên cứu sai lệch, xa thực tế.
Họ không làm được chuyện gì mới.
Vì làm sao làm được trong khi các nhà khảo cứu tiền bối - người Pháp đa số - đã
được ưu thế khi quan sát, ghi chép về hình thức văn hóa, văn minh Việt Nam
trước họ, hồi đầu thế kỷ 20 khi mà những nét, những hình thức của văn minh Việt
Nam chưa bị tàn phá, đập nát thành mảnh vụn. Bây giờ chỉ là chép sách cũ, của
Tây. Cô độc, thất nghiệp về tinh thần, những học giả "kinh nhi viễn chi"
này ắt đã nhiều phen cau mày, buồn buồn, ngáp dài bên chồng sách khi nghe văng
vẳng tiếng súng, đêm thâu. Cái cau mày của một hành khách ngồi trên xe đò.
Người hành khách không lái xe nhưng đem lại lợi tức cho ông chủ xe. Chủ xe
không đích thân lái xe nhưng ông ta mướn tài xế. Và người tài xế đã vô tình,
hoặc cố ý vì lý do kỹ thuật là lái vào sát lề để cán dẹp một người đi bộ. Người
đi bộ nằm dưới bánh xe, trên bánh xe là cái thùng xe và trên thùng xe là lớp
nệm, trên đó có sức nặng của người hành khách gọi là vô tội trong vụ cán xe
này.
Và người hành khách sạch sẽ ấy sẽ
cố gắng giữa thái độ bình thản, tự phong là nhân chứng, vì bình thản là thái độ
chân chính của nhà khoa học. Để cho tình cảm riêng tư chen vào hư cuộc khảo
cứu, cuộc quan sát. Nên nói thêm rằng nhà nghiên cứu khoa học nhân căn của
chúng ta cố ý quên rằng mình đang ngồi trên xe. Ông ta phóng mắt tìm những nét
độc đáo... trong dân tộc, theo phương pháp mà các vị hiền tiền ở Tây phương đã
dạy, với tinh thần nhân bản - làm như ở Á Đông, ở Việt Nam chúng ta không biết
tình đồng bào, tình nhân loại và chúng ta cần nhập cảng thứ đạo đức ấy từ Tây
phương mà dùng. Người lữ hành trên chiếc xe thấy mình là kẻ sống không gặp
thời. Phải chi họ được sống trong cái thuở thanh bình hồi đầu thế kỷ, khi các
tháp Chàm, các lăng tẩm Huế, các bộ sử in trên giấy bản còn trinh nguyên chưa
được cặp mắt xanh của người hùng Tây phương ghé đến. Thuở ấy, một viên chánh
tham biện chủ tỉnh đến đình chùa gặp ông đại hương cả, viếng một bô lão (đang
lãnh chức cai tổng, một chức vụ tượng trưng) là tha hồ sưu tầm sốt dẻo bao
nhiêu sử liệu gần như nguyên chất, đáng tin cậy vào bậc nhứt, nói chi đến các
người Pháp được tu nghiệp để qua thuộc địa nghiên cứu về văn hóa, nhân chủng.
Họ trở thành thánh sống đáng cho tổ quốc ghi ơn (tổ quốc Việt Nam)!
Người học giả Việt Nam ngày nay
tìm mãi, với phương pháp Tây phương, mà không thấy cái gì mới mẻ hơn về mặt văn
hoá. Họ tự an ủi rằng người Pháp đi trước đã đớp những món ngon rồi, giờ đây là
cạn tàu ráo máng, hoặc là hoàn cảnh chiến tranh không cho phép họ đi thung
thăng tận miền quê, hoặc là thiếu phương tiện, thiếu tiền trợ cấp. Sử liệu Việt
Nam có lẽ phong phú nhứt hồi đời nhà Nguyễn, từ khi Nguyễn Ánh gặp Bá Đa Lộc.
Giai đoạn ấy được người Pháp chiếm quyền ưu tiên ăn nói, sưu tầm tài liệu ở
Việt Nam, đối chiếu với tài liệu ở bộ Thuộc địa chánh quốc.
Nhưng người Pháp đã nói hết chưa?
Ở miền Nam, chúng ta đã nói lên, đã tổng kết "theo phương pháp khoa
học", những cuộc tranh đấu chống thực dân Pháp suốt trăm năm đô hộ hay
chưa? Hay là đợi người Pháp tổng kết giùm qua các tài liệu ở "chánh
quốc". Người Pháp giúp ta những gì về văn hóa? Cái nhân văn, nhân chủng...
của họ đã đem lợi ích gì? Muốn sử dụng đúng bất cứ một phương pháp nào để
nghiên cứu văn hóa, sử học thì điều kiện căn bản vẫn là lòng tự tin, lòng tự
trong. Nói mạnh hơn, là tự hào. Người Việt Nam có quyền tự hào. Tại sao chúng
ta không đả phá cái thứ khoa học lấy Tây phương làm chuẩn để phê phán các dân
tộc hải ngoại, ngoài phạm vi Âu châu như Phi, Úc, Mỹ châu (trước khi có di
dân)? Chúng ta nên đứng vào vị trí một người Việt Nam để viết những quyển lịch
sử về nước Anh, nước Pháp, nước Mỹ cho đồng bào ta đọc. Chúng ta sẽ giải thích
cho đồng bào ta biết tại sao thực dân Pháp tìm thuộc địa vào cái lúc mà thi sĩ,
văn sĩ của họ theo xu hướng lãng mạn, yêu cây cỏ, yêu nhân loại, yêu tự do bình
đẳng.
Văn hóa Việt Nam không bị người
Tàu trước kia và người Pháp sau này tiêu diệt vì nó có thật, có sức mạnh. Nhưng
nó bị mất mát, nói cụ thể là bị đập ra từng mảnh rời rạc, nếu quan sát từng
mảnh thì mất ý nghĩa hoặc ý nghĩa bị xuyên tạc như người xem con voi mà chỉ
thấy cái đuôi giống như cái chổi, lỗ tai giống như cây quạt. Tại sao ta không
sưu tầm, ráp nối, tìm hiểu thực chất mảnh vụn đó? Thời quân Tàu cai trị còn lưu
lại những chuyện cổ tích, những giai thoại - những mảnh vụn quý báu, đáng tin
cậy. Người Pháp đập văn hóa nước ta ra từng mảnh vụn, những gì của ta còn lại
đều là giai thoại sai niên biểu, là cổ tích, mê tín không xài được. Không là
tài liệu đáng tin cậy - chỉ là nhảm nhí, trà dư tửu hậu, chuyện khôi hài.
Dường như người Pháp - theo
phương pháp của họ - đã gọi đó là anecdote. Anecdote của đám dân quê, của Cống
Quỳnh, đượm thần quyền, ma quái. Một thí dụ cho rõ: cái chết của Nguyễn Trung
Trực. Người Pháp ở thuộc địa Nam Kỳ thấy phần nào cuộc khởi nghĩa này, cách đây
một trăm năm. Các bô lão ở Rạch Giá mãi đến nay còn nhắc nhở rằng trước khi bị
hành quyết, ông Nguyễn Trung Trực, một lãnh tụ chưa đầy 30 tuổi đã nói với thực
dân rằng: "Chừng nào đất nầy hết cỏ thì mới hết người giết Tây". Nhà
khảo cứu (học ở trường của Pháp, từ Pháp về) sẽ cho rằng câu nói khẳng khái ấy
hơi "khó tin" vì thiếu sử liệu để chứng minh. Sử liệu gì bây giờ? Câu
ấy phải được ghi vào biên bản do bọn đao phủ xác nhận, có ký tên hoặc lăn ốc
tay làm bằng? Hay là được một sĩ quan Pháp thuật lại, đăng tải trên mặt báo
thời ấy, ở Sài Gòn hoặc ở Paris, Hồng Kông, Batavia... trên trang mấy, dòng thứ
mấy. Kẻ nào nêu câu nói đó lên mặt giấy thì bị xem là cổ xúy lòng ái quốc lẩm
cẩm, để tình cảm riêng tư len lỏi vào việc làm khoa học.
Không cần giải thích dông dài,
chúng ta tin rằng câu nói trên nhứt định là có, mặc dầu những kẻ nghe tận tai,
thấy tận mắt đã chết từ lâu. Họ thuật lại cho con cháu và tuy "tam sao
thất bản", sai lạc vài tiếng nhưng tinh thần câu nói vẫn là vậy. Có lẽ lúc
liệt sĩ thọ hình, một số lĩnh mã tà đã nghe rồi nói rỉ tai cho nhau. Thời Pháp
thuộc, nếu nhà khảo cứu Pháp hay ông đốc phủ sứ nào muốn điều tra về lời đồn
đãi ấy chắc là gặp câu trả lời "không nghe không thấy" của người dân.
Ai ngu dại gì mà nói một chuyện gây tai họa cho bản thân mình? Và ông đốc phủ
sứ nếu nghe được ắt đã cư xử khéo léo, khuyên dân chúng đừng đồn đãi những lời
quốc sự, và trở về báo cáo rằng không có gì hết.
Phải chăng chuyện cũ thì đã bị
khai thác triệt để rồi, còn gì mà nói?
Thật ra, người Pháp che giấu tất
cả. Một số "học giả" học trường Tây lại muốn đi xa hơn, ngược về quá
khứ xa xưa, càng xa càng tốt để dễ bề làm việc, được yên ổn tâm thần, đồng thời
lại được hy vọng nổi danh khắp thế giới hơn là nói chuyện thời dân tộc ta bị
trị. Đào xới gặp một cái hũ, một cục đá vẫn là dễ chịu cho lương tâm hơn là đào
xới một bộ xương người, nhưng nếu là xương người thì nên tìm bộ xương nào đã
nằm trong lòng đất trước thời nhà Nguyễn. Vài "học giả" Tây phương đi
phiêu lưu qua thuộc địa tìm danh lợi - tìm dễ dàng hơn ở chánh quốc - đã dùng
phương pháp khách quan, nhân bản của họ để ca ngợi vài tên phản quốc bổn xứ, có
công đánh Nam dẹp Bắc hoặc ru ngủ dân tộc. Chúng ta chưa đính chánh hẳn hoi.
Đào xới một bộ xương cọp chết vẫn là dễ dàng và sang trọng hơn là đối diện với
một con cọp sống. Nào ai cấm cản các nhà khảo cứu đi sâu vào phong trào Cần
Vương, Duy Tân, cách mạng kháng Pháp nữa đâu?
Viết lại đời hoạt động của ông
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh hoặc ông Đồ Chiểu là việc khá thực tế, cấp bách,
viết với quan niệm mới, với lòng tự tin lòng yêu nước. Chúng ta còn nhiều sử
liệu vì nhiều vị nầy ở miền Nam. Người Pháp đã nói về ông Đồ Chiểu, qua Lục Vân
Tiên, xem đó là tác phẩm lớn. Họ cố ý bỏ quên những bài bát cú, những bài văn
tế của ông Đồ Chiểu. Người Việt Nam nên đặt lại vấn đề: Lục Vân Tiên được sáng
tác khi người Pháp chưa đến, miền Nam chưa mất. Những bài văn tế của ông Đồ
Chiểu mới thật sự là tác phẩm lớn, là nỗi lòng của ông và của dân tộc.
Giờ đây, người ngoại quốc đang
hướng về dân tộc ta. Nhưng nhà khảo cứu ở nước ta thì hướng về ngoại quốc, muốn
xuất ngoại để trình luận án hoặc tìm thêm tài liệu về Việt Nam. Trường hợp
Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu được các nhà khảo cứu nhân văn ở Việt Nam
nhận xét như thế nào, qua cái lăng kính "nhân bản Tây phương"? Họ
quan tâm đến không? Họ có ý thức sưu tầm tài liệu để khảo sát đúng phương pháp
của "Tây phương" hay không? Hay đó chỉ là huyền thoại, là chuyện tình
cảm lẩm cẩm, là "anecdote"? Hỡi ơi! Những người nhân bản không dám
đối diện với tấm gương nhân bản nóng rực như lửa mà mát rượi như gió trên đồng
lúa. Họ không dám thú nhận sự bất lực của một phương pháp không thích nghi, hẹp
hòi, phiến diện, chỉ tạm có giá trị đối với Tây phương khi các dan tộc chậm
tiến chưa được lên tiếng.
Khi mới xâm chiếm nước ta, vài sĩ
quan Pháp trong quân đội viễn chinh đã nói thẳng mà không sợ phản tuyên truyền,
không sợ mất chức vì giới quân đội họ lúc ấy khá mạnh nhờ khí giới. Họ nắm chắc
sức thắng thế (Ch. Gossenlin, Réveillère). Họ nhìn nhận rằng Phan Đình Phùng
giàu khí khái, rằng dân chúng vùng Gò Công có người hùng đúng nghĩa như người
Hy Lạp thời cổ. Những sử liệu như trên đáng được gìn giữ, gạn lọc và chúng ta
háo hức chờ đợi một công trình "giải độc" về sử học. Công trình nầy
phải do người Việt Nam làm lấy vì "ai yêu nước Việt hơn người
Việt"... Nếu cần viện trợ kỹ thuật thì chúng ta thiết tha yêu cầu người
Pháp, người Nhựt, người Anh, người Mỹ... giúp chúng ta những tài liệu liên quan
đến lịch sử Việt Nam mà họ đang giữ. Hoặc nhờ họ giảo nghiệm những bộ xương,
những đồ gốm, đồ đồng. Với các nước nhược tiểu ở Đông Nam Á, ta cần liên lạc để
trao đổi tài liệu và phương pháp. Một quyển sử được biên khảo với tinh thần nói
trên ắt sẽ làm hài lòng toàn dân, được chào đón niềm nở.
Người nghiên cứu không còn cô độc
nữa. Họ sẽ tranh luận thẳng thắn với nhau, với tinh thần xây dựng, hứng thú. Và
người dân dốt nát sẽ muốn gần nguời khảo cứu hơn.
Với số chuyên viên đào tạo ở Tây
phương và với những người yêu sử ở trong nước, nhứt định chúng ta sẽ làm đựoc
chuyện nói trên. Vừa làm vừa tìm ra những nguyên tắc, những phương pháp mới.
Người Tây phương xem vấn đề Việt
Nam là vấn đề hàng đầu, làm ray rứt "lương tâm nhân loại". Chính họ
cũng thấy rằng Việt Nam là một dân tộc đáng nể, rõ ràng có gì khác so với các
dân tộc ở Đông Nam Á. Người Mỹ dường như đang cố gắng tìm hiểu người Việt qua
những sự kiện thực tế, họ dùng kỹ thuật phỏng vấn, trắc nghiệm tâm lý, điều tra
tại chỗ qua cặp mắt của nhà xã hội học để hiểu về thành thị và nhứt là nông
thôn. Đến nay dường như các nhà xã hội học, các bình luận gia còn đang làm việc
và chưa đưa ra một tổng kết nào cụ thể, làm thỏa mãn những ai muốn hiểu về
"dân tộc tính" Việt Nam.
Đám sương mù dường như đang che
sự vật. Nhiều người đang ở Sài Gòn mà không hiểu Sài Gòn. Sài Gòn muôn mặt,
người ta nói như thế. Muôn mặt là thế nào? Chỉ là muôn ngàn giai thoại dễ tin
và khó tin chung quanh một sự việc hay nhiều sự việc. Người ngoại quốc nào xem
qua quyển "Sài Gòn năm xưa" của ông Vương Hồng Sển ắt phải bực dọc vì
quyển ấy không xây dựng theo phương pháp Tây phương. Ngoài phần khảo cứu, tác
giả cho xen vào bao nhiêu là giai thoại, chính tác giả gọi đó là tập "biên
khảo thường đàm". Đã là giai thoại thì phải truyền khẩu, đã truyền khẩu
thì dễ thêm thắt, trong vòng hai tháng một đôi năm thì câu chuyện lý thú bi ai
đã thay đổi từ chi tiết đến nội dung, sai lạc niên biểu (trong văn học ta, có
nhiều tác phẩm như Công dư tiệp ký, Tang thương ngẫu lục, Kiến văn tiểu lục
thuộc vào loại này, thấy thích là ghi chép).
Nhưng trong nhiều trường hợp, các
giai thoại thường đàm lại chứa đựng sự thật, là sử liệu biến chất nhưng còn cái
lỏi tốt. Nó che giấu, bảo tồn những điều mà nhà cầm quyền phong kiến hay thực
dân giấu giếm, không dám cho phổ biến trên sách vở, báo chí. Một thứ bia miệng
lắm khi bền chắc hơn bia đá. Dân ở nước nghèo nàn như nước ta thời vua quan,
thời bị thực dân đô hộ thích dùng giai thoại để giải khuây, an ủi, un đúc tinh
thần lẫn nhau, nếu không là tranh đấu. Ra báo, in sách thì tốn tiền mua sắm
phương tiện, lại cần tự do, người viết cũng như người đọc đều phải biết chữ.
Đêm khuya rảnh việc, lúc ăn tiệc, lúc thăm viếng nhau thì còn gì hơn là, tặng
cho nhau vài giai thoại ít ai biết. Người dốt dùng giai thoại để trao đổi với
người dốt. Công chức, địa chủ thời Pháp thuộc, hoặc quan cai trị Pháp đều có
những giai thoại riêng của từng lớp họ. Giới bình dân ở thành thị, ở thôn quê,
từng xóm, từng tỉnh lại có giai thoại riêng.
Và nhiều giai thoại được phổ biến
qua mọi từng lớp. Lời nói là phương tiện ít tốn kém, ít nguy hiểm hơn văn tự.
Đã nói lén, đã phổ biến một mẩu chuyện "bất hợp pháp" thì người ta sẽ
tùy đối tượng mà trình bày, thêm hoặc bớt chi tiết, giữ gương mặt nghiêm trang
hay cười xòa như kẻ vì kém học thức nên nói bậy "xin bà con miễn chấp, tha
thứ cho". Đã đến lúc chúng ta sưu tầm những giai thoại để làm giàu cho kho
tàng văn hóa nước nhà. Nước ta chịu nhiều năm dưới ách Trung Hoa và thực dân
Pháp nên giàu về giai thoại. Tha hồ mà tìm kim cương trong tảng đá cứng, nếu
dám đập bể tảng đá. Tha hồ mà luyện vàng nếu ngọn lửa cháy nóng đúng độ. Cứ đọc
"Sài Gòn năm xưa" để hiểu về nết ăn thói ở dưới thời đàng cựu:
Đông đảo thay phường Mỹ hội
Sum nghiêm bấy làng Tân khai
Ngói liễn đuôi lân, phố thương
khách tòa ngang dãy dọc
Hiên sè cánh én, nhà quan dân
hàng vắn hàng dài
Gái nha nhuốc tay vòng tay niểng
Trai xênh xang chơn hớn chơn
hài...
Khung cảnh ấy thay đổi. Tây qua
chiếm Sài Gòn, lại nảy sanh nhiều bọn hầu cận, dọn bàn, mấy thầy thông ngôn ký
lục, bọn ba-nhe, ban-bù, xách giỏ cho bà đầm đi chợ. Một số nhân vật bổn xứ ra
mắt và họ vào lịch sử với những "giai thoại" về nghệ thuật lập công
với Tây của tổng đốc Lộc, phương pháp mị dân "hiền lành" của tổng đốc
Phương và sự giữ gìn tiết tháo của Trương Vĩnh Ký, Paulus Của. Lại còn giai thoại
về nhứt Sĩ, nhì Phương, của tam Xường, tứ Định, những nhân vật Hoa kiều làm
giàu hồi Tây mới qua. Ngoài ra còn giai thoại về đại ca Tư Mắt, về hoàng đế
Phan Xích Long, về vua cờ bạc Sáu Ngọ.
Những nhà khảo cứu Pháp đã nghĩ
gì về những giai thoại đó? Họ sẽ chê bai rằng người Việt Nam không biết tranh
thương với Hoa kiều, nặng óc mê tín, đàng điềm cờ bạc và nếu không trừng trị
gắt gao thì trở thành du côn Bồn Kèn? Đành rằng người Pháp đã đồng lõa với
những "tệ đoan" ấy - tất cả đều là tệ đoan, từ sòng bạc đến cuộc phiến
loạn - nhưng cuộc khai hóa nào mà không gây nên xáo trộn, xương máu?
Đó là rác rến của dòng sông cuồn
cuộn chảy, kẻ nào vạch lá tìm sâu thì không thấy sự thật khách quan hùng biện
là công trình bảo vệ văn hóa mà người Pháp ra tay gánh vác giùm cho người bổn
xứ, gánh vác với tinh thần bất lợi; nhiều khảo cứu Pháp đã làm việc như một tu
sĩ, như nhà "hiền triết". Giai thoại là tài liệu lăng nhăng "bên
lề đường" người đứng đắn không quan tâm đến thứ tài liệu cỏ rác đó. Mặc
cho người Pháp đánh trống lảng đưa giới trí thực Việt Nam vào thời tiền sử với
trống đồng, lưỡi tầm sét và tượng Phật gãy tay, người địa phương làm sao quên
được những chuyện có thật mà nhân chứng hoặc nạn nhân còn sống đó, mà con cháu
đang ôm hận thù.
Cuộc nổi loạn của ông Quản Hớn ở
Mười Tám Thôn Vườn Trầu há chẳng biểu dương hào khí của người Miền Đông! Nhưng
ai chép lại, ai bổ cứu những giai thoại đó? Người địa phương cứ bàn tán, nhắc
nhở cho nhau từ hàng năm mươi năm. Đó chưa phải là bằng cớ chứng minh họ nói
láo, nói xấu nhà nước thuộc địa hoặc họ mang nặng đầu óc vị chủng, bài ngoại mù
quáng. Ông Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa, bị hành quyết. Dân làng Vĩnh Thanh Vân
(tỉnh lỵ Rạch Giá), dân ở ven rừng U Minh, thuộc làng Vĩnh Hòa thờ Ngài. Hỏi
đâu là bằng cớ thì thật không tài nào trưng ra được. Người địa phương, từ một
người dân vô tư đến ông hương quản đều xác nhận như thế, họ lấy làm hãnh diện,
họ sợ oai linh ông Nguyễn vì Ngài là thần linh đủ oai quyền để thấy mọi hành
động bất chánh của con dân, có những tội trạng mà pháp luật thực dân bỏ qua nhưng
lại bất dung tha đối với Ngài. Thời Pháp thuộc, nếu quan trên hỏi thì ai nấy
đều chối dài, cho rằng họ chẳng bao giờ dám thờ. Quan trên ắt hài lòng khi thấy
đình làng chỉ có sắc thần (hoặc không có) với bốn chữ Thành hoàng bổn cảnh, quá
tổng quát giống hệt sắc thần ở làng khác, không khác một chữ.
Nào thấy ghi rõ tên Nguyễn Trung
Trực!
Văn hóa Việt Nam ở đâu? Chẳng lẽ
ngồi mà mơ ước được về đồng quê, lên núi, tìm gặp cái sọ người, vài tượng Phật
độc đáo. Tìm được là điều may nhưng cái sọ người ấy cũng chỉ là tài liệu khiêm
tốn - đối với đồng bào - là góp một tài liệu để so sánh, giúp chúng ta hiểu
thêm về lịch sử Đông Nam Á. Trong khi chờ đợi cái dịp thanh bình, chẳng lẽ chúng
ta bó tay. Nếu không đặt vấn đề theo kiểu nầy được thì tại sao ta không can đảm
đặt vấn đề theo kiểu khác để cùng tới mục đích là tìm hiểu dân tộc. Nên chọn
những nẻo đường hợp lý, gay go, miễn là chúng ta dám bước vào, dẹp tự ái lẩm
cẩm; sẵn sàng chịu nắng mưa bụi bặm, đổ mồ hôi và chuốc lấy sự hiểu lầm, sự
"chê bai" của các quan thầy Tây (các quan thầy nầy đã về nước, muốn
thấy trái bom nổ chậm của họ cháy ngòi).
Cuộc chiến tranh đã kéo dài trên
hai mươi năm rồi, dài hơn một đời người. Nhiều gia đình đã ra trận, từ cha đến
con. Dân tộc ta chịu đựng cuộc thử thách, và còn chịu đựng thêm nữa theo tốc độ
gia tăng. Miền Nam là nơi chịu đựng nhiều nhứt. Nếu hiểu được văn hóa người
Việt thì chúng ta sẽ tự hào nói lên "một cái gì" rất bình dị, đơn
giản và mầu nhiệm. Các bộ môn khoa học nhân văn phải bổ túc cho nhau ở những
điểm gặp gỡ chung nào đó. Cứ nhìn bằng mọi quan điểm qua mọi lăng kính của các
môn phái sử học, xã hội học. Và nhìn với tình cảm, với nỗi xót xa, với niềm tin
của người Việt Nam. Tin vào khả năng tự cường mà dân Việt đã chứng minh rằng
có.
Một luận điệu dễ dãi đã thành
hình, luận điệu của số ít người cho rằng Việt Nam chẳng là cái gì đặc biệt cả,
Việt Nam được nói tới vì vị trí, vì định mạng, tình cờ lịch sử mà thôi.
Thưc tế đã chứng minh: người Việt
biết phản ứng khéo léo, từ ngày xưa cũng như các dân tộc ở Á Châu, Phi Châu
biết phản ứng khi gặp gỡ những văn hóa lạ, khác với văn hóa sở tại. Sự phản ứng
này đã bộc lộ những điều hay, điều dở của người Việt. Về sự gặp gỡ của nền văn
hóa bổn xứ với nền văn hóa từ bên ngoài, các nhà xã hội học Âu-Mỹ đã cố gắng
nghiên cứu đặt ra một ngành đặc biệt là họ coi là Acculturation. Ngành nầy đặt
ra quá trễ từ sau đệ nhị thế chiến. Khi gặp luồng văn hóa ngoại quốc xâm nhập
thì nền văn hóa dân tộc phải phản ứng, sự phản ứng có thể là sáng tạo, nếu nền
văn hóa địa phương đủ sức mạnh mẽ để tiêu hóa, tiếp nhận. Ngược lại thì xảy ra
nhiều thảm kịch. Văn hóa dân tộc bị đập ra từng mảnh vụn vô nghĩa, từng miếng
thịt rời rạc mất sức sống, đồng thời sanh ra một số người vong bản, sống vất
vưởng không còn năng lực để bám vào "lòng đất mẹ" hầu tái tạo, khôi
phục lại giá trị cũ làm căn bản cho nếp sống mới. Thế là văn hóa dân tộc bị
tiêu diệt.
Người Việt đến vùng Đồng Nai,
vùng đồng bằng sông Cửu Long thì gặp người Miên. Người Miên ở vùng đất gò,
không thích vượt sông, ra biển, không thích phá rừng. Đất đai quá rộng, mỗi dân
tộc theo nếp sống riêng. Người Việt vượt sông phá rừng, tìm đường ra biển và
canh tác, cất nhà nơi đất thấp.
Hai nền văn hóa khác nhau, nhưng
tạm gặp nhau ở nụ cười của Đức Phật. Tiếng đọc kinh ở chùa Miên tuy thiếu
chuông mõ nhưng cũng nhắc nhở con người cố gắng làm điều thiện. Với nền kinh tế
tự túc từng vùng nhỏ, với đất đai quá rộng, người ta không cần tranh chấp về
địa bàn hoạt động. Việc thờ phượng thêm vài vị thần như thờ cái đầu con sấu ở
mé sông, thờ vài cục đá - như người Miên đã từng làm - được người Việt vui vẻ
chấp nhận, vì nó giống như thờ cọp, thờ bà Chúa xứ. Món ăn ngon của địa phương
như cá lóc, rùa, lá nhàu, lá cách, lá lốt đã làm giàu cho bữa ăn. Cuộc gặp gỡ
giữa hai nếp sống không phải là va chạm mãnh liệt, là cưỡng bách vì chẳng ai có
nền kinh tế mạnh hơn ai. Chỉ là mua bán nhỏ, là đổi chác, là sự trao đổi, gặp
gỡ hồn nhiên.
Cái huyền thoại "cả cơm
nhiều tiền" chỉ mới thành hình vào thế kỷ thứ 20. Đời chúa Nguyễn, vùng
đồng bằng sông Cửu Long chẳng có gì để bán buôn vượt ngoài phạm vi một huyện;
cá tôm thì đâu cũng có, củi than cũng vậy. Lúa gạo thì dư ăn trong gia đình
nhưng nếu muốn sản xuất nhiều thì thiếu nhơn công, thiếu vốn. Người dân sống
trong cảnh vừa dư giả, vừa túng thiếu: dư ăn trong gia đình về cơm cá nhưng
thiếu về quần áo, thuốc men, thiếu phương tiện chuyên chở. Phải đợi những di
thần "bài Mãn phục Minh" như Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu
đặt chân vào thì sanh hoạt mới trở nên phấn khởi và xẩy ra sự va chạm về văn
hóa, về kinh tế, về quân sự. Đã đến lúc sự nhận xét trong Bình Ngô Đại Cáo của
Nguyễn Trãi được trắc nghiệm giữa người Việt và người Trung Hoa: có gì là khác
nhau về phong tục? Và nền văn hiến cũ của người dân Việt có gì là khác với
cường quốc phía Bắc? Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch là hai nhà tướng. Bọn
quân sĩ của Trần Thắng Tài đều giải giới tự nguyện (?), lo phát triển thương
mại trong nước và ngoài nước, sống định cư, tạo lập chợ phố, tích trữ hàng hóa
và vốn liếng. Từ Biên Hòa bọn nầy dời về địa điểm mà nay chúng ta gọi là Chợ
Lớn.
Ưu thế kinh tế của họ vượt hẳn
người Việt Nam, từ ngày ấy đến suốt thời Pháp đô hộ và đến nay, như còn thấy.
Ở vịnh Xiêm La, Mạc Cửu chỉ lo
xuất nhập cảng. Chung quanh vùng Hà Tiên (chợ Hà Tiên) đất đai vẫn hoang vu.
Ngoài ra, Mạc Cửu lại ôm ấp hoài bão xây dựng một tiểu quốc ở biên thùy, làm
trung gian giữa Việt Nam, Cao Miên và Xiêm. Đời sau, con ông là Mạc Thiên Tứ
phải chết vì mưu đồ nầy.
Như rắn mất đầu - mất liên lạc
với nước Trung Hoa bấy giờ dưới quyền người Mãn Thanh - họ gây uy thế, làm áp
lực về kinh tế. Để được sự che chở của triều đình Huế, để dễ chiêu binh (trường
hợp Mạc Cửu) hoặc lập chợ phố (Trần Thắng Tài) họ tỏ ra hiếu khách, gây cảm
tình nơi xứ lạ quê người để lập nghiệp. Người Việt Nam ta - nói cụ thể là người
nông dân Trung phần - vẫn là hiếu khách. Trong việc giao thiệp qua lại, cất nhà
cùng xóm, cưới vợ gả chồng, nền văn hóa Việt Nam đã biến đổi ra sao?
Nếu trước kia văn hóa Việt Nam
chỉ là cóp nhặt văn hóa Tàu thì ắt người Việt phải mất gốc luôn - trở thành Tàu
- như giọt nước về nguồn, như hột muối bị tan hòa trở lại trong biển lớn, khi
gặp bọn Mạc Cửu, Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch vì cuộc tiếp xúc này vốn là
bất bình đẳng, người Việt miền Nam thuở ấy bị yếu kém hơn về kinh tế, cá lớn
nuốt cá bé, nước trên cao chảy xuống thấp. Quá trình tiếp xúc ấy thật quanh co
phức tạp với nhiều động lực chính trị, quân sự. Đi sâu vào việc tiếp xúc ấy là
vấn đề nghiên cứu về lâu về dài, cần thêm nhiều tư liệu và tranh luận. Nhưng
chúng ta biết chắc: người Tàu đi theo Mạc Cửu ở Hà Tiên, Dương Ngạn Địch ở Mỹ
Tho và Trần Thắng Tài ở Biên Hòa đã trở thành Việt Nam, những người "lạc
ông Bổn". Tuy chưa nắm được con số thống kê hoặc khó bề tra cứu về gia
phổ, chúng ta vẫn nói được rằng họ chiếm một tỷ lệ rất cao trong dân Việt Nam,
con cháu của họ sau nầy là hương chức làng, là nho sĩ, là nghĩa quân khi Pháp
mới chiếm nước ta.
Ngày nay vì còn nhiều người gốc
Hoa ở Chợ Lớn, ở các tỉnh lỵ Nam phần, đặc biệt là ở các tỉnh miền Tây Nam phần
nên nhiều người lầm tưởng rằng đó là hậu duệ các di thần Trần Thắng Thài, Dương
Ngạn Địch, Mạc Cửu! Sự thật không phải vậy, "Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới
sông cá chốt trên bờ Triều Châu" vẫn là ám chỉ những người Triều Châu qua
di trú thời Pháp thuộc, đâu vào khoảng sau 1910. Số Huê kiều ở Chợ Lớn cũng
thế, nếu chúng ta chịu khó tra cứu lịch sử làng Minh Hương tìm cho biết ai là
con cháu bọn di thần nhà Minh, đời Trần Thắng Tài chúa Nguyễn, và ai là người
mới qua làm ăn, khi người Pháp nới rộng qui chế di trú cho ngoại kiều Á Châu.
Người Pháp kể lể công trình bảo
tồn văn hóa Việt Nam do họ đề xướng và nghiên cứu không biết mệt. Họ chê bai
nông dân và cả giới sĩ phu bổn xứ vì không biết giá trị cổ tích nên phá hủy, tỏ
thái độ hờ hững với di sản tiền nhân.
Thời kỳ hoàng kim của những nhà
khảo cứu Pháp là khoảng sau năm 1900.
Họ khảo cứu và bảo tồn văn hóa
Việt Nam một cách lạnh lùng, "khoa học", cố tình làm tai ngơ mắt điếc
trước phong trào tranh đấu mở mang văn hóa, đòi tân học do các sĩ phu đề xướng.
Họ làm chuyện nầy trong khi sĩ
phu và dân Việt đòi chuyện kia - hai chuyện đều là "văn hóa". Họ
nghiên cứu văn hóa Việt để kềm hãm người Việt, để cho người Việt mang mặc cảm
tự ti, ngỡ mình là dân tộc oai hùng, có nhiều nét đẹp thời xưa nhưng đã lỗi
thời, nên an phận ôm giấc mộng vàng son thời xưa mà chờ vận hội mới do người
Pháp chỉ dạy. Các sĩ phu Việt Nam thì muốn tự cường, hiểu văn hóa với nghĩa
linh động, xem văn hóa là một tiềm lực.
Ông Phan Bội Châu muốn tiếp nhận
sinh lực Tây phương qua phong trào Duy Tân của Nhựt. Ông Phan Châu Trinh khuyến
cáo các sĩ phu đừng chìm đắm trong cái đẹp tiểu xảo của văn chương bát cổ. Ông
Trần Quý Cáp cho rằng "chữ Quốc ngữ là hồn trong nước, phải đem ra tính
trước dân ta... Á, Âu chung lại một lò, đúc nên tư cách mới cho rằng
người". Lúc làm giáo thọ ở Thăng Bình, ông Trần rước thầy về dạy chữ Quốc
ngữ và chữ Pháp cho học sinh. Ông Huỳnh Thúc Kháng nhận định rằng "dân lấy
sự học làm sinh mạng mà quan xem sự học như một sự thù nghịch". Việc canh
tân, việc thu nhận văn hóa Á-Âu của các ông bị xem là phiến loạn vì với cái học
ấy, dân Việt sẽ vùng dậy, càng học, dân càng chống thực dân. Thực dân Pháp thì
muốn hiểu văn hóa Á-Âu theo quan niệm "chết", với những học giả đeo
thẻ ngà "ấm ớ hộ tề" như Phạm Quỳnh, cũng Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu,
cũng ca dao, cũng "Phật giáo đại quan". "Ấm ớ hộ tề" là
mang cái vỏ mà khoe khoang, tách rời văn hóa ra khỏi vận mạng dân tộc, du nhập
văn hóa nước ngoài với mục đích đề cao sức mạnh của nước ngoài, nói chớ không
dám thực hành, trốn thực tế.
Đề cao Quốc ngữ, nói dân chủ tự do
theo thuyết Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu nhưng một đằng thì bị chém, đày Côn đảo,
mọt đằng thì cứ đeo thẻ bài ngà, giả vờ như không hiểu rằng người Pháp đến xứ
ta với mục đích thực dân vì chúng vẫn duy trì nước An Nam với nhà vua, hoàng
tộc, bộ lễ, bộ lại, bộ hình xôi thịt... Các ông Trần Quí Cáp, Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh xuất thân nho học, hiểu rành những lạc thú hưởng nhàn của nhà
nho thế mà mạnh dạn công kích bọn hủ nho để cảnh tỉnh đồng bào. Trong khi đó,
các nhà khảo cổ Pháp lại làm một việc trái ngược, hủ nho hơn bọn hủ nho, toan
bảo tồn những cái vỏ đẹp mà ông Trần Quí Cáp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
đòi đập bỏ. Các nhà khảo cổ nầy muốn đứng vào địa vị cao sang, sạch sẽ của nhà
"khoa học thuần túy", với sự hợp tác với những "anh hùng thấm
mệt" như Sở Cuồng Lê Dư, đặc tính của anh hùng thấm mệt là muốn trở thành
hiền triết, tay chân không dính đất bụi, yêu nước một cách siêu hình, có danh
và có tiền xài. Với niềm hy vọng là được lòng phe ta và phe Tây.
Dạo ấy, khoa học nhân văn với các
bộ môn như dân tộc học, cổ tiền học... chưa được các nho sĩ yêu nước nhắc tới,
đề cao hoặc đả kích. Nó là khoa học xuất phát từ Tây phương. Chắc chắn là các
ông muốn thâu thái các ngành nầy vì đó là một trong những công việc để duy tân
nước nhà. Nhưng các ông không muốn đặt cái cày trước con trâu. Sự đòi hỏi về
văn hóa nhắm vào mục đích đòi độc lập, đòi quyền tự chủ. Trước khi người Pháp
đến, dân ta có sẵn một cái vốn, một tiềm lực nào đó. Người Pháp phải giúp dân
ta phát triển cái vốn ấy lên, làm tăng cường tiềm lực bằng cách "hiện đại
hóa", tức là bài xích cử nghiệp, đề xướng tân học.
Người Pháp thì muốn hiểu theo
nghĩa khác. Họ quan niệm rằng trước khi họ đến việc học vấn là con số không ở
nước ta. Nhờ họ mà mỗi quận có một trường, hai trường học, tức là họ đã làm
được chuyện gì, với con số thống kê, đồ biểu cụ thể. Các trường ấy không đáp
ứng - về nội dung - vào yêu sách các nho sĩ duy tân vì "trường Tây"
vẫn đề cao khoa cử, thi đậu để làm công chức, và cái Tây học ấy chỉ là vỏ chớ
không có ruột, thiếu tinh thần "Tây học" thật sự của Lư Thoa, Mạnh
Đức Tư Cưu. Danh từ "văn hoá" giống nhau nhưng nội dung thì khác
nhau, mỗi bên đều dồn đối phương vào chân tường. Ngay trong nội bộ của sĩ phu
thời Đông Du vẫn có một số người vọng ngoại, tin vào sự trợ giúp vô tư của Nhựt
hoàng, một số khác muốn nhắm vào quyền lực dân tộc; ông Trần Quý Cáp đã viết ra
bản Sĩ Phu Tự Trị Luận, công kích xu hướng vọng ngoại.
"Văn chương bát cổ" bị
công kích chỉ vì thiếu nội dung, vì nội dung xa thực tế đau thương của dân tộc.
Các ông Phan Sào Nam, Trần Quý Cáp vẫn dùng hình thức liễn đối, thơ bát cú, văn
tế, phú. Ông Trần Quí Cáp người hăng hái cổ xúy tân học, khi ra tới trường
chém, "đao đã ghé cổ, còn thung dung xin với quan giám trảm cho đặt án đốt
hương, áo mão nghiêm trang bái tạ quốc dân ngũ bái rồi khẳng khái tựu hình, sắc
mặt in như khi nhóm trò giảng sách". Sĩ phu miền Trung đã kháng Pháp, tiên
đoán thực tế, từ hồi đầu thế kỷ 20. Văn hóa, đối với các vị nầy là vận mạng dân
tộc. Người thích văn chương thuần túy sẽ bực mình vì các vị nầy làm thơ nực mùi
chánh trị. Các vị chống thực dân Pháp với một tư thế, một sự kiên nhẫn, gan lì
khá độc đáo. Sưu tầm những tài liệu cuộc tranh đấu nầy, tổng kết lại là việc
cần thiết. Chúng ta có phương tiện gần đầy đủ ở miền Nam, việc làm nầy rất hữu
ích tuy không làm chấn động giới "khảo cổ quốc tế" như trường hợp tìm
ra một ngôi mả xưa, một pho tượng hồi thế kỷ thứ III, một cái sọ người!
Gẫm lại sọ người, cái lưỡi tầm
sét, ngôi mả xưa chỉ gây xúc động cho người Việt và nhân loại khi nào nó là một
bộ phận tiêu biểu cho sự tiến bộ, cho niềm hy vọng, nỗi đau thương, khi từ cánh
tay gãy bằng đá, từ cái sọ mục nát phát ra nhiều hào quang, tưởng chừng như
trong cái sọ ấy có óc và cánh tay nọ có máu nóng đang chảy. Nó dính dáng đến
đại thể, dính dáng mật thiết - nói nôm na là nó có duyên. Mỗi pho tượng chỉ gợi
cảm khi nó có duyên, giải đáp một vấn đề. Người có duyên phải biết đòi hỏi, đặt
vấn đề đúng lúc, vấn đề ấy không phải của riêng mình là của chung dân tộc. Ở
lăng ông Thoại Ngọc Hầu bên chân núi Sam gần kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc), còn có
câu đối hai bên mộ bia: "Văn chương hoán tinh đẩu... " Thoại Ngọc Hầu
chỉ ưa xem hát bội, không để lại cho hậu thế bài thơ nào. Ông lo trấn giữ bờ
cõi, di dân lập ấp, tổ chức đào nhưng con kinh chiến lược đúng nơi đúng lúc.
Ông làm chánh trị, làm quân sự, làm kinh tế. Vùng biên thùy Hậu Giang trở thành
một nơi "sơn thủy hữu tình thiên lý ngoại", với bao nhiêu sinh lực.
Ông Thoại Ngọc Hầu là tiêu biểu của văn chương.
Mấy tiếng văn minh, văn hóa được
người Âu châu định nghĩa từ hồi thế kỷ thứ 17, 18, nghĩa là mới đây, lúc các
nhà tư bản tìm thị trường ở lục địa khác.
Văn minh được hiểu như là phản
nghĩa của dã man, của thiên nhiên, chưa khai hóa. Như vậy có tình trạng chênh
lệch đàn anh, đàn em giữa dân tộc văn minh và dã man thô sơ. Và dân văn minh
lãnh nhiệm vụ khai hóa, lấy cái văn minh của mình làm khuôn vàng thước ngọc về
nết ăn thói ở, về cách suy nghĩ để cho toàn thế giới tiến đến trình độ văn minh
đồng đều - nghĩa là giống như văn minh Tây phương. Nước văn minh thì giàu sang,
nước chưa văn minh thì nghèo hèn. Lại còn danh từ văn minh kỹ thuật, ngụ ý rằng
nước nào ở trình độ kỹ thuật cao thì... . có trình độ văn minh cao hơn nước
trình độ kỹ thuật thấp. (Xem J.Berque. Dépossession du monde, Ed. Du Seuil,
1964).
Nói đến văn minh là nói đến bất
bình đẳng giữa tài nguyên, kỹ thuật.
Đâu hồi 1939 ở nước ta, các nhà
văn, nhà chánh trị cãi vã nhau về quan niệm nghệ thuật, về "duy tâm, duy
vật".
Cuộc tranh luận ấy không thể xảy
ra lúc nầy, lúc mà những người hữu thần duy tâm lại sống thừa thãi: từ đôi vớ,
cây viết đến bếp điện, nồi điện, vô tuyến truyền hình, bàn cạo râu điện. Tiểu
thuyết tâm tình, áo đầm, đồ hộp... đi sâu vào xóm bình dân. Mỗi người đều có hy
vọng trở thành hoa hậu hoặc trúng số độc đắc. Hoàn cảnh chung quanh xúi giục
mọi người nên sống cho ra vẻ đứng đắn, đứng đắn là theo công thức mới, không
lập dị. Công thức nầy bao gồm thói ăn nết ở, cách ăn mặc, cách giải trí theo
thời trang do quảng cáo thương mãi giựt dây.
Người ta dùng tiếng văn minh vì
dường như danh từ văn minh bao gồm những thành quả về vật chất. Đó là nếp sống
thành thị, lãnh đạo nếp sống thành thị là một lớp người đặc biệt mà chánh phủ
ta đã nhiều phen lên tiếng đả kích: những người đầu cơ chiến tranh, làm giàu
nhờ chiến tranh, không là ngoại bang nhưng chính là người Việt Nam. Họ mua bán,
nhập cảng hàng hóa. Mua tiền và bán tiền. Hàng hóa chỉ là một cái cớ để họ đổi
tiền đổi bạc. Nghề sanh nhai của họ không thể có truyền thống ở Việt Nam vì xưa
kia chỉ riêng vua chúa mới có nhiều vốn, nắm trọn ngành ngoại thương. Họ xuất
hiện, đóng vai trò chạy mối trong các hãng ngoại quốc.
Xuất thân của họ gồm nhiều từng
lớp khác nhau: hoặc là từ trong gia đình có truyền thống làm mại bản, hoặc là
người cai thầu ở tỉnh nhỏ mới lên Sài Gòn lập nghiệp từ năm ba năm, hoặc là
nông dân khéo giao thiệp, hoặc là điền chủ chạy giặc lên Sài Gòn với hai bàn
tay trắng nhưng nhờ đứa gái đẹp gả cho lính Pháp. Hoặc là dàn cựu kháng chiến,
hồi cư. Thời buổi chiến tranh, mua bán trúng mối là dễ làm giàu nhưng muốn làm
to thì phải có gan: bất chấp luật lệ, xuất quỷ nhập thần, gian thương đi đôi
với tham nhũng, tìm những sơ hở của luật lệ hiện hành. Họ biết rằng các cường
quốc Âu Mỹ đang trải qua thời kỳ "văn minh sung túc, thừa thãi" và
dân nghèo ở nước nhược tiểu luôn luôn thèm khát những tiện nghi vật chất, sẵn
sàng tiêu thụ từ cây kim, cái muỗng, đến chiếc xe gắn máy, phấn son...
Xa xỉ phẩm trở nên cần thiết, có
thể cho người ta quen dùng để rồi thấy rằng cần thiết: nhịn ăn, ăn xôi, ăn
khoai lang buổi sáng, ăn cá kho rau muốn luộc buổi trưa để dư chút ít tiền hòng
chơi hụi mua sắm máy truyền hình, hàng vải ngoại hóa, dầu thơm. Nhà ở chật chội
nhưng cái phòng khách choán hơn phân nửa diện tích; giường ngủ, nhà bếp, nhà
tắm, nhà vệ sinh chiếm phần ba còn lại. Chỗ ngủ, chỗ ăn và nhà tắm kiêm cầu vệ
sinh chỉ cách nhau vài tấc. Thời chiến tranh mà được ngủ yên, ngoài vòng bom
đạn thì quả thật là tiên: thiên đường mà các nhà đạo đức hứa hẹn trong kiếp sau
dường như mơ hồ, chi bằng ta tạo cho ta một thiên đường nhỏ bé, tại nhà, với
gạch bông, với ảnh nữ minh tinh trên vách, với máy thâu thanh, thâu hình, với
nệm cao su và hoa ni lông nở bốn mùa. Đời là khổ nhưng trong cái khổ vẫn chứa
cái sung sướng, uống thuốc bổ gan lúc táo bón, ngậm kẹo ho lúc bắt đầu ho và
ngậm loại kẹo chứa hàng chục thứ sinh tố khi buồn miệng. "Khen ai kiếp
trước khéo tu, mà nay con cháu võng dù nghinh ngang".
Thời chiến tranh mà người ta ganh
tị nhau từ màu áo, son phấn, hiệu xe hơi. Thành công về tài chánh trên đường
đời là dấu hiệu của tài năng, của phước đức. Các loại hàng hóa cứ đổi thay, dễ
trở nên lỗi thời nên mọi người cần dạo phố để theo sát thời trang. "Đẹp
trai, con nhà giàu, học giỏi", "Phây phây cũng có ăn". Sự nhàn
rỗi được ca ngợi. Thời trước trong báo Phong Hóa, Ngày Nay, Lý Tóet và Xã Xệ là
hai nhân vật tiêu biểu cho dân quê, số dân quê nầy bị ngăn cách với thành thị
bằng bức tường kiên cố, không tài nào vượt qua được, càng cố gắng vượt qua thì
càng té đau, càng bị ném trở về vị trí cũ. Ngày nay, tình thế khác hẳn. Với
chút ít tiền là người ta đọc báo tâm tình, được mặc đầm, uốn tóc theo thời
trang, đi giày cao gót. Và nếu chịu khó chú ý thì ai cũng được dịp nhại lời ăn
tiếng nói, bộ điệu của con nhà lành trưởng giả qua tuồng cải lương, qua tiểu
thuyết tâm tình - để đốt nhanh cái giai đoạn "cù lần" "thị
Mẹt"... Tất cả đều là trưởng giả mới, những người trưởng giả mới luôn luôn
thấy khó chịu như đứng không vững trên đất và để tạo thế quân bình tạm thời, họ
mua những món không cần thiết nhưng "tiêu biểu", họ nhìn quanh để tìm
ra những dấu vết "cù lần" "thị Mẹt" hoặc "Ma-ri
Phông-tên" ở những người khác để tự an ủi rằng họ đã vượt giai đoạn ấu
trĩ, đã đạt được nếp sống trưởng giả cổ điển "Ăng lê".
Dầu là nhà cửa lầy lội, con cái
ốm o, ghẻ chốc nhưng người ta phải giữ hình thức trưởng giả, khi ra đường. Hễ
ra đường thì phải rửa cho sạch sẽ bộ chân đóng phèn để rồi loanh quanh với cái
ăn cái mặc, để tìm và giữ vững sanh kế! Từng lớp đau xót nhứt ở thành thị không
phải là cu li, bồi bếp nhưng là những tư chức, làm ngày hai buổi với đồng lương
không đủ tiền cơm, tiền xe, nhịn ăn để lo quần áo son phấn và khi rảnh việc,
buổi tối hoặc ngày chúa nhật thì giặt quần áo. Người đứng đắn không nên dạo phố
với áo bi-ra-ma, dép Nhựt Bổn. Người nghèo nhứt cũng sắm ít nhứt ba bốn bộ quần
áo để mặc ở nhà, thay qua đổi lại. Loại "quần áo bộ", "đồ
bộ", quần sa-ten may túm ống kiểu quần jean và cái áo ngắn nhái theo phân
nửa áo đầm. Áo dài "cổ truyền" được cải cách, Tây phương hóa cho sát
eo, cho lồi ngực, bó sát thân hình. Và nếu cần định nghĩa cho cái áo bà ba, ta
cứ gọi nó là phân nửa cái áo dài tân thời.
Thất bại trên đường đời, kiếm
không ra tiền là phạm tội lớn với gia đình, với dòng họ, với người lân cận. Rốt
cuộc trong xóm nghèo, người ta lại ganh tị nhau, người nầy dòm ngó khen chê
người kia quá nghèo chưa biết ăn mặc. Chịu đựng sự chê bai của người giàu là dễ
vì đó là sự chịu đựng gián tiếp. Gìn giữ cho người trong xóm, trong sở đừng chê
bai là điều khó hơn. Cái nhìn của người láng giềng. Cái nhìn của cô bạn.
Người mại bản, bọn gian thương
luôn luôn kiêu hãnh vì thấy cái lối sống ích kỷ của họ trước kia bị công kích
nay được phổ biến. Những người ngoan cố, thủ cựu nhứt lúc đầu thì nguyền rủa họ
(khi mới đến thành thị) nhưng lần hồi thì hàng phục, noi gương họ. Họ và bè lũ
cứ ngồi uống rượu uýt-ky, chửi đổng một cách vô trách nhiệm, công kích mọi
chánh phủ rằng chánh phủ nầy thất bại vì không làm theo ý kiến họ, chánh phủ
kia chưa làm được gì đáng kế chỉ vì không đi sát quần chúng, không theo sát
tình hình. Đối với người Mỹ thì họ khen một điều, chê hai điều. Đôi khi tâm hồn
trống trải, thấy người chung quanh chẳng ai chơi thật tình với họ thì họ lại
nghĩ đến tình dân tộc.
Khi thì họ nói: "Dân tộc là
cái gì? Đó là danh từ huyền hoặc, vô nghĩa trong thời đại liên lục địa, liên
hành tinh, khi người Việt dùng đồng hồ Nhựt, gạo Mỹ, thuốc bổ Hòa Lan, thịt
lạnh Úc Châu, máy in Đài Loan, ván ép Đại Hàn, mặc quần áo như đầm, chơi hoa
kiểng theo Nhựt, tập Yoga theo Ấn Độ và thích học chương trình Pháp hoặc học
Anh ngữ, nghe nhạc Mỹ". Nhưng bỗng dưng, họ trở giọng: "Tôi là thằng
Việt Nam, ai đụng tới thằng Việt Nam thì tôi đập bây giờ. Thế giới đã ngán
thằng Việt Nam rồi. Ai chưa ngán kẻ đó còn mê ngủ". Nhiều người đã lầm họ.
Họ làm giàu nhờ chiến tranh thế mà họ lại than phiền hơn ai hết, cho mình là
nạn nhân của chiến tranh. Họ làm giàu vì nhờ số mạng, nhờ tử vi! Khi tình hình
chính trị sôi bỏng, họ muốn "làm một cái gì" nhưng khi chưa ra trận
họ đã rút lui tự bao giờ, thấy rằng tình thế bao giờ cũng bất lợi, thôi hãy chờ
dịp khác.
Họ đã yêu nước đâu hồi 1945, có
tản cư vài tháng hoặc đôi ba năm. Họ xưng là chống thực dân, họ đã quen biết,
đã nuôi nấng hoặc gặp một vài nhà cách mạng tiền bối nào đó. Kháng Pháp đối với
họ chỉ là một mớ hồi ký, giai đoạn lụn vụn, vừa bi ai, vừa buồn cười. Chỉ là
giai thoại vì không biết tổng kết thế nào cho ổn. Đối với cuộc chiến hiện tại,
họ đóng vai trò một ông trời con để phê phán, chấm điểm cho cả đôi bên. Ai muốn
họ phục tài thì phải làm "một cái gì" tức là một thành tích ngoài
chiến trường, đóng vai những cá nhân cứu dân độ thế như những người hùng miền
Viễn Tây. Họ không đủ thông minh để thông cảm với những chiến sĩ vô danh. Nhìn
vào đại cuộc, họ phê phán các nhân vật ở Âu-Mỹ, ở Việt Nam cho rằng ai cũng
hành động vì động cơ ích kỷ như họ. Và người làm cách mạng cũng là người ích
kỷ. Rất may là họ ít chịu làm chính trị, họ chỉ thích làm áp-phe khi cần tranh
thương hoặc đầu cơ, đuổi nhà đuổi đất thì cứ tiến hành một cách lạnh lùng -
tiến tới rồi đính chánh sau.
Thỉnh thoảng họ bàn bạc về văn
nghệ, gặp đám tiệc liên hoan họ nhảy nhót và uống rượu hết mình. Họ xem văn
nghệ sĩ là bạn thân, họ phục tài các văn nghệ sĩ để chứng tỏ họ nào phải là kẻ
phàm phu tục tử, những thứ văn nghệ mà họ ưa thích là vũ, thoát y vũ.
Sau đệ nhị thế chiến, với mức sản
xuất thừa thãi, người ở Mỹ ở Âu châu bắt đầu bước qua giai đoạn mới. Con người
sống khá thơ thới về vật chất, với tiện nghi nhưng thấy cô đơn và trống trải,
dầu là khi đi dạo phố, dầu là khi trở về với gia đình bên cạnh vợ con hoặc khi
giao thiệp làm ăn.
Đài phát thanh, vô tuyến truyền
hình, báo chí, những đường liên lạc hàng không, những cuộc du lịch nghỉ hè giúp
con người thông cảm nhau, trong bầu không khí giặc nguội với cuộc chạy đua võ
trang nguyên tử. Đó là trường hợp Âu-Mỹ. Các nước Á-Phi đã nổi lên, giành độc
lập dễ dàng hoặc khó khăn. Nước Việt Nam từ chối nền độc lập dễ dàng của cao ủy
d"Argenlieu, Bollaert và đã dấn thân vào cuộc tranh đấu võ trang.
Việc chọn lựa với thái độ tích
cực ấy chứng tỏ rằng dân Việt Nam thuộc hạng "văn hóa cao". Việc ấy
xảy ra không vì sự cao hứng liều lĩnh của năm ba người lãnh tụ, cũng không phải
vì vô ý thức, tình cờ như kẻ trót cỡi lưng cọp rồi cỡi luôn hoặc kẻ điếc không
biết sợ súng. Tám mươi năm dưới ách đô hộ của thực dân đã là dịp để toàn dân
thao dượt. Thực dân Pháp tung ra chiêu bài bơ sữa, những thủ tục chuyển ngân,
buôn đồng quan mà chúng và một số người bổn xứ đều được hưởng lợi. Hiệp định Genève
ra đời chấm dứt trận giặc Việt-Pháp, để lại bao hậu quả buồn cười. Thử đơn cử
một thí dụ nho nhỏ: quân đội Viễn chinh Pháp xuống tàu rồi mà nhiều năm sau
trên lề phố Sài gòn vẫn còn nhiều loại tiểu thuyết chưa rọc của văn sĩ nổi
danh, đoạt giải Goncourt nhập cảng để chuyển ngân. Và nhiều tạp chí dành riêng
cho lính Tây đọc, trong đó ca ngợi thành tích chiến đâu vô địch của quân đội
thực dân, kèm theo vài tranh ảnh, vài bài khảo cứu "thuần túy vô tư"
về đồ gốm, ca dao, đình chùa Việt Nam, làm như quân đội Pháp đánh chiếm Việt
Nam vào năm 1945 là để phát huy, bảo vệ... . văn hóa.
Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mở
một kỷ nguyên mới về tiện nghi với những hàng hóa viện trợ nhiều vượt bực. Với
nếp sống theo công chức, san bằng cá tính. Người ta cố gắng leo thang cho kịp
tiêu chuẩn, bỏ mô-by-lết để chạy Vespa, nhà thì lót gạch bông thay vì gạch tàu,
nếu lót không trọn nhà thì lót phía trước, nơi phòng khách và hễ khách vào nhà
thì lột giày ra. Đào kép cải lương được chính thức nâng lên hàng nghệ sĩ, phong
là "kỳ nữ", người viết tuồng được gọi là soạn giả. Người ta sắm tủ
rượu chưng nơi phòng khách và trên tủ rượu phải có máy thâu thanh, càng nhiều
"băng" thì càng sang trọng. Làm cách nào để đánh dấu giai đoạn của
tiện nghi, trong đời sống người dân đô thị?
Giai đoạn chuyển tiếp ấy kéo dài
khá lâu. Theo thiển ý chúng tôi, giai đoạn tiện nghi mới, giai đoạn của đám
người cô độc giữa chợ đông - tạm nói theo David Riesman (những cái nhìn thiếu
nồng ấm của đồng bào đồng loại, những nụ cười, những cái bắt tay tuy siết chặt
nhưng ngỡ ngàng, tạm bợ) - đám đông ấy chỉ thành hình đâu vào khoảng 1959-1960
với những thần tượng ca sĩ phòng trà, với những nữ minh tinh màn bạc bổn xứ,
khi người ta tặng cho nhau một cách sang trọng những cái máy thâu âm transistor
kiểu bỏ túi mua trong chuyến đi Hồng Kông, khi nhật báo Sài Gòn Mới được nổi
danh, trở thành "tờ báo của mọi gia đình" nhờ tiểu thuyết ái tình,
tranh đấu, xã hội, tình cảm thời đại ở trang trong. Thoạt tiên, người ta chưa
hiểu "văn chương tiêu thụ" là gì, nó đến quá êm ái, nhanh chóng với
đôi hài bảy dặm vượt trùng dương. Nó không xưng danh hiệu. Thấy nó được tiêu
thụ nhiều, nhiều người cau có, bảo là "văn chương ba xu" của Ma-ri
Sến, của chị bán cá Cầu Ông Lãnh, của cô gái gánh nước mướn nhưng khi nhìn kỹ
thì rõ ràng nó được "mọi thành phần" ưa chuộng từ cô gánh nước, cô
gái bán ở Khu Dân Sinh đến bà vợ ông đốc tơ, cô nữ sinh. Tuồng cải lương trở
thành ăn khách nhờ có nội dung có hậu, nhờ "hình thức dân tộc".
Các tuần báo tâm tình của phái
yếu gặp thời đại hoàng kim như diều gặp gió với bìa in minh tinh
"ốp-sết", với lời chỉ dạy về cách trau dồi sắc đẹp, cách nấu ăn, cách
đãi tiệc, xã giao hoặc gìn giữ cho người đàn ông đừng ngoại tình, với những
truyện bằng tranh, tiểu thuyết bằng ảnh. Đời các nữ hoàng kim cổ được
"bình dân hóa", trong khi đời các nam nữ minh tinh được "vương
giả hóa"với những mối tình đầu tan tác, nỗi sầu hận trong thâm cung hoặc
trong biệt thự. Lẽ dĩ nhiên những truyện nầy cũng như cốt truyện tiểu thuyết
đăng báo, như đa số tuồng cải lương đều "có hậu" tức là được giải
quyết ở phần kết luận: kẻ thiện được minh oan, kẻ làm ác bị trừng trị. Nhưng
thiết tưởng nên nhìn qua, đọc qua những sản phẩm có hậu ấy - nhìn kỹ hơn.
"Có hậu" tức là thoát
ly thực tế vì trong hoàn cảnh nầy văn nghệ phẩm loại tiêu thụ chỉ có hậu một
cách giả tạo: tình cờ bị xe hơi cán rồi gặp lại người yêu cũ ở nhà thương thí
hay bệnh viện Đồn Đất. Hoặc đi tu rồi tình cờ được can gián trước khi xuống
tóc. Hoặc gặp ông chồng giàu (nhờ nhan sắc lộng lẫy) hoặc làm ăn phát đạt, hoặc
gặp tình nhân cũ trong vũ trường, hoặc vào giờ chót họ tung tiền ra để giải
quyết, bảo vệ hạnh phúc gia đình, chứng minh rằng trong lúc chiến tranh tơi bời
hạnh phúc gia đình vẫn bảo vệ được, chiến tranh thì mặc chiến tranh! Hoặc cam
tâm phục tùng định mạng mà sống theo luân lý Khổng Mạnh vì xưa nay con tạo đa
đoan, trời xanh quen thói má hồng đánh ghen, chữ tài liền với chữ tai. Bởi vậy
thế giới của loại văn nghệ tiêu thụ nầy là một thế giới bưng bít, đượm màu luân
lý phong kiến.
Nó ăn khách vì nó xa thực tế ban
cho độc giả một niềm an ủi, khuyên ai nấy nên cam tâm mà xuôi theo định mạng vì
mỗi con người vui sướng sang hèn... đều do tử vi. Nó ăn khách vì dường như sát
thực tết xã hội với bối cảnh tiền chiến, kháng chiến chống Pháp hoặc lúc bây
giờ. Nhân vật chánh của loại văn nghệ tả chân xã hội nầy có thể là đã đi kháng
chiến chống Pháp vài năm, bị tù đày hoặc người bị chiến chinh làm cho "tơi
bời" rồi chạy lên Sài Gòn. Họ trở thành gái mãi dâm hạng sang, vũ nữ xinh
đẹp hoặc nữ thương gia, hoặc thương gia triệu phú, bác sĩ, luật sư, kỹ sư - có
đi du học ở Pháp về càng tốt. Họ sống sung sướng với biệt thự, rảnh thì đi Đà
Lạt, đau thì nằm bệnh viện Đồn Đất cho "ra vẻ" con người, con cái thì
mặc đầm, biết lái xe hơi, nhảy nhót. Họ lừa đảo, phản bội (chỉ phản bội trong
phạm vi tình chồng vợ, tình bạn bè, cha con mà thôi) nhưng rốt cuộc được thanh
minh, được biện hộ là người có lương tâm. Người đời lên án họ chẳng qua là hiểu
lầm, sự hiểu lầm mà họ khó giải bày. Họ khóc lóc nỉ non, đòi tự tử nhưng họ vẫn
sống tới màn chót để cho có hậu "theo luân lý cổ truyền", phong kiến
hơn phong kiến.
Loại sản phẩm tiêu thụ nầy không
phải là sáng tác, nó là món ăn cũ, hấp lại "quanh quẩn mãi một vài ba dáng
điệu", thêm chút ít gia vị "chiến đấu, luân thường, đạo lý". Nó
minh oan cho tất cả mọi người. Và người sống bẩn chật hoặc thất nghiệp hoặc dư
giả tiền bạc nhưng lương tâm cắn rứt tha hồ sống tiêu diêu trong thế giới
"tình cảm xã hội tranh đấu" để thấy khuôn mặt của mình: ông bác sĩ
trong tiểu thuyết vẫn biết khôi hài và đôi khi nhậu rượu đế như anh đạp xích
lô. Cô Kiều Loan, cô Nhung Hồng, nữ minh tinh cải lương, bà hoàng hậu X. vẫn
thích ăn kẹo, thích nuôi chó, thích hờn mát như cô gái bán chè trong xóm bùn
lầy nước đọng. Người triệu phú, ông bác sĩ, ông xuất nhập cảng, người nữ minh tinh
vẫn đau khổ, vẫn yêu lẩm cẩm, phụ người hoặc bị người phụ, tức là bình đẳng.
Bên cạnh "văn chương tiêu
thụ, phổ biến và ăn khách " (mass-media) còn có loại văn chương "vào
đề", đề tài là những chàng trai tuổi hai mươi bước vào đời với bao nhiêu
khó khăn. Họ thèm những tiện nghi của thanh niên Tây phương, thèm sự rảnh rỗi
và thèm lạc thú thân xác. Họ công kích bọn đàn anh xôi thịt và quả thật có một
số đàn anh của họ nặng óc xôi thịt. Nhưng sự công kích nầy khó đi xa vì bọn đàn
anh đã mỉm cười khéo léo: "Chúng bây cũng xôi thịt như tao. Tao đây mới là
đại diện cho dân tộc vì tao có dĩ vãng đấu tranh quyết liệt hoặc đấu tranh thụ
động, thời Pháp thuộc, tao biết luân lý cổ truyền. Tụi bây là vong bổn, xa rời
dân tộc, lười biếng, con hoang phá của".
Về triết học, thuyết hiện sinh
được nhập cảng và diễn giải.
Về tâm lý học, có nhiều chuyện
đáng nói hơn. Nó chỉ ở bước đầu tiên, trong vòng thí nghiệm với phương tiện văn
nghệ tiêu thụ, với ngành quảng cáo thương mãi.
Tâm lý con người, tinh thần chiến
đấu, văn hóa truyền thống... được xét lại, phân tích, đo lường cụ thể. Con
người tiến tới, thối lui, cau mày, ngồi lì một chỗ hoặc nhảy nhót hò hét đâm
chém, thèm đàn bà, thèm đàn ông đều do những động cơ tâm lý, do bộ thần kinh,
do những tế bào ở bộ óc điều khiển. Người ta đã chứng minh từ lâu rằng con
người đang no vẫn thèm ăn nếu bị kích thích đúng nơi, đúng phương pháp. Động
tác con người do tiềm thức, do dục vọng dồn ép, do khung cảnh chung quanh điều
khiển. Điều khiển sự buồn vui, sự thèm muốn, tạo cho con người có thái độ thụ
động hoặc tích cực... là chuyện dễ, cứ bấm nút. Nhiều công ty thương mãi ở Mỹ
quốc đã chịu tốn kém, mướn chuyên viên để nghiên cứu những động cơ bí ẩn nào
thúc đẩy các thân chủ mua sắm thêm hàng hóa. Các chuyên viên nầy đã tạm tổng kết
một cách khoa học - nói không phải để đùa, nhưng là nói theo sách, xem Vance
Packard, La persuasion clandestine và những quyển khác cùng một tác giả, dịch
ra Pháp văn do nhà Calmann-Levy xuất bản - cho rằng đàn ông thích sắm viết máy
thứ tốt vì muốn biểu dương bộ phận tiêu biểu cho nam tính.
Trẻ vị thành niên muốn hút thuốc
để chứng tỏ rằng mình đã nên người, bà lão ưa hút thuốc để biểu dương rằng tuy
già nhưng tâm hồn bà ta vẫn yêu đời, mơ mộng như thời con gái. Đàn bà thích mua
những món hàng để sẵn trong hộp màu đỏ khi đàn ông thích mua những loại đựng
trong hộp màu xanh. Sắm tủ lạnh để tinh thần được yên ổn, tin rằng không bao
giờ bị đói kém, với số đồ ăn dự trữ. Người ta rình trong Siêu thị để quay phim
một nữ thân chủ nào đó, đếm kỹ những lần bà ta nháy mắt. Bình thường, con người
nháy mắt 32 lần mỗi phút, khi "bấn loạn" con người nháy mắt nhiều lần
hơn, từ 50 đến 60 lần mỗi phút. Nhưng khi bấn loạn và hốt hoảng đến tột độ,
những lần nháy mắt ấy sụt xuống còn chừng 20 lần mỗi phút mà thôi. Nhiều thân chủ
vào siêu thị ngắm xem bao nhiêu hàng hóa bày la liệt rồi bỗng dưng không thèm
nháy mắt nữa, nháy mắt dưới trung bình, chỉ còn 14 lần trong một phút.
Lúc đó bà ta "chết
đứng" như bị thôi miên, quên cả trời đất, chỉ còn thấy hàng hóa. Những
hàng hóa sang trọng - trước kia chỉ dành cho ông hoàng bà chúa - lúc ấy lại dẫy
đầy trước mắt bà ta, với một giá bán vừa phải. Thế là bà ta cứ mua, mua
"bằng thích" trong lúc "bốc đồng". Mua xong, người ta thấy
bà ta nháy mắt 25 lần mỗi phút, nghĩa là trở lại trạng thái bình thường, sau
khi được tạm thỏa mãn, nhưng đến khi trả tiền thì lại nháy 45 lần vì xúc động,
nghĩ đến số tiền trong túi sắp cạn chưa ắt đủ trả chuyến mua sắm ấy.
Người ta tập luyện cho trẻ con
ham mua sắm, tạo cho chúng nó những thói quen. Và với những thủ thuật, người ta
đã quảng cáo ồ ạt, xây dựng một cô đào trở thành thần tượng, một kỹ nghệ gia
trở thành chánh khách. Phương pháp quảng cáo thương mãi nói trên đem lại hiệu
năng cụ thể, đồng thời nó làm giảm giá trị cái "phần tâm linh" của
con người. Tâm linh, tinh thần đạo lý đều trở thành những dục vọng, những phản
ứng lẩm cẩm, chẳng có gì đáng gọi là thiêng liêng vì người ta tạo ra nó được.
Nghệ thuật bị lũng đoạn khi lăn xả vào "quảng cáo thương mãi" để trở
thành kỹ thuật thuần túy. Những văn nghệ phẩm cổ điển lần lượt bị biến chất, hạ
thấp giá trị khi được quảng cáo thương mãi khai thác. Cái bộ ngực của pho tượng
thần Vệ nữ đảo Milo sẽ là bộ ngực lý tưởng của kẻ phàm phu, nếu kẻ ấy dùng loại
kem thoa nuôi da thịt.
Và rồi đây những ca dao, những
câu Kiều, những câu thơ của Nguyễn Khuyến sẽ trở thành bối cảnh trơ trẽn.
"Dừng chân ngoảnh lại trời non nước, một mảnh tình riêng ta với ta"
là lời mời mọc để ăn bánh, để cùng nhau đến khách sạn ngoài bãi biển. Nghệ
thuật vốn là sự gọt dũa do con người tạo nên với mục đích làm chủ lấy mình, cải
biến thiên nhiên, giờ đây nó trở lại tình trạng thiên nhiên, như cục đá viên
sỏi mất hẳn ý nghĩa. Người bình dân đã hưởng thụ những gì xưa kia dành cho từng
lớp tiểu tư sản hoặc từng lớp trí thức: văn chương của tuồng cải lương, của bản
vọng cổ là lối văn Bắc, quí phái, sang trọng, mô phỏng theo thơ Xuân Diệu, tiểu
thuyết Lê Văn Trương hoặc Đường Thi. Người bình dân bắt đầu sợ sanh con cái
đông đảo, muốn sanh đẻ ít để nuôi cho chúng ăn học "đứa nào đáng đứa nấy".
Ít ai nuôi cha mẹ trong gia đình vì quá tốn kém. Ai nấy đều ôm ấp hy vọng leo
thang về tiện nghi để hưởng hạnh phúc lứa đôi, để trở thành một "khuôn
mặt" trong giới bạn bè đồng nghiệp, một khuôn mặt hơi nhàm, lắm khi
"trẻ con" vì tiện nghi ngày nay có khả năng bảo vệ, âu yếm người lớn
tuổi, như người mẹ săn sóc đứa bé trong nệm gối có phấn thoa sảy.
Thiếu âm nhạc, thiếu truyện tâm
tình, thiếu dạo phố để mua sắm lẩm cẩm, con người như chới với, đứng trên mảnh
đất dốc trơn trợt mà không có nơi bám víu tạm thời. Phải dựa vào ma túy, tửu
sắc để nói vài câu triết lý khi rượu tỉnh canh tàn rồi sau đó, tìm một tiện
nghi tinh thần với niềm an ủi phù du rằng tất cả chúng ta đang hóa thân thành
người mới. Nhưng "mới" lại là cũ. Nội dung mới phải chăng chỉ là hình
thức mới, trưởng giả mới chỉ là nhà nghèo mới, cách mạng theo lối mới chỉ là
một thứ bảo thủ mới? Sau những phút bận rộn về sinh kế, xã giao lẩm cẩm, người
ta vượt những đoạn đường đầy ổ gà, đầy khói và bụi để về nhà tìm lạc thú riêng,
sống khôn ngoan, sống cho mình vừa xem báo vừa liếc vào máy truyền hình trong
gian phòng. Hoặc vừa gánh nước vừa ngỡ mình là minh tinh, hoa hậu, với tiếng
hát tân nhạc, cải lương vang ra từ căn nhà chật hẹp.
Nhưng sự chọn lựa ấy liệu có đem
lại sự yên ổn cho tâm hồn? Tây phương thì khác xứ ta vì sự cách biệt giữa thành
thị và thôn quê chỉ đóng khung ở mặt kỹ thuật, ở lối sản xuất hàng hóa. Xứ ta
đang có giặc. Nạn lửa binh diễn ra tại thôn quê nước ta với súng đạn, phá hại
những gì tối cần thiết như cái lợp nhà tranh, cái nền đất, cái chõng tre, cái
cối giã, cây dừa, bụi rau, cọng lúa, nói chi đến xa xỉ, tiện nghi. Trong xứ ta
luôn luôn có hai thứ thính thị to rộng nhứt, hùng biện nhứt: tiếng đạn, ánh
sáng của hỏa châu. Hỏa châu không phải là pháo bông, tiếng đạn khác hơn tiếng
pháo Tết.
Người ta không bố trí bàn thờ ông
bà trong nhà, nhiều người quên ngày giỗ. Căn cứ vào sự kiện đó, nhà khảo cứu có
thể kết luận rằng đó là những người đã vong ân bội nghĩa với tổ tiên hay không?
Lại còn những tin chiến sự, nhưng
cuộc cãi vã ngoài đường, những việc vợ chồng đánh đập nhau rồi ly tán. Ngay lúc
đọc sách báo, người thành thị chợt nhớ chút gì, đó là lương tâm, đó là cái dại
của cái khôn, đó là sự thất bại, sự rạn nứt của tiện nghi. Người ta có thể tỉnh
rượu trong lúc say. Và nào đợi gì lúc canh tàn mới thức giấc? Tình đồng loại
đòi những giải đáp làm ray rứt lương tâm. Ray rứt năm phút rồi dứt hay là khi
hết ray rứt cơn đau ấy vẫn tiếp tục hoành hành, người ta chỉ tạm quên ray rứt
vì ngửi mùi hoa hồng, hoa sói?
Cơn ray rứt ấy là một phản ứng
tâm lý cấp thời, có thể trị được hoặc chuyển nó qua hướng khác như trường hợp
những hài nhi không bú vú mẹ, lớn lên thì cứ cho uống sữa tươi, ăn kẹo và cho
nhìn những bộ ngực hỏa diệm sơn để giải phóng mặc cảm. Hoặc cơn ray rứt đó là
đáy biển, bị sóng cồn che lấp. Hoặc là mạch nước suối dạt dào của bốn ngàn năm
văn hiến, bị che lấp, trên mặt đất chỉ còn lơ thơ vài cụm cỏ vàng úa. Người ta
bèn trị cái bịnh ray rứt đó bằng cách nghe đọc truyện Kiều, ăn cá lóc nướng
truôi, ngâm thơ tiền chiến, xem hát bội, ăn sầu riêng Lái Thiêu, bưởi Biên Hòa,
chơi đồ sành sứ, đi câu cá, ráp những chiếc máy bay nhỏ, trồng kiểng, thổi sáo,
hoặc mặc áo dài, đội khăn đóng, ăn thịt chó, uống rượu, hát tâm ca, du ca.
Những món ăn "dân tộc", các sản phẩm địa phương ấy trở thành những
mảnh vụn vá víu, thiếu sinh lực, bị chặt đứt khỏi gốc, trở thành những
"vật". Đem cây cột nhà, cây chổi, con đỉa ráp lại, người ta khó tạo
thành con voi, dẫu là bóng hình mờ nhạt.
Cái tiện nghi vật chất và tinh
thần của Tây phương mời mỗi người vào một phòng kính đáo, trong đó không khí
được điều hòa, ấm lạnh tùy thích. Khổ thay cái gian phòng "điều hòa"
của người Việt không được kín cho lắm. Nó vừa kín vừa hở, cửa đóng, tâm tư khép
kín nhưng nó giống như căn nhà của người Mán và thi sĩ Tản Đà đã mô tả với
tiếng "lợn kêu eng éc bên ngoài cửa phên", "song thưa gió lọt
bốn bên lạnh lùng".
Tấn bi kịch nói trên đang diễn ra
ở con người thành thị. Nói rằng toàn thể người thành thị đều mắc bịnh "bi
đát" đó thì không đúng. Ngược lại, nói rằng tòan thể người ở thôn quê đều
không ham tiện nghi cá nhân thì lại càng không đúng.
Một ký giả phân tích rằng con
người Việt Nam gồm ba con người khác nhau cộng lại: một thằng bồi, một người
nghèo đói, một người kiêu hùng, khinh tất cả Tây Tàu. Tùy từng người mà tỷ lệ bồi,
kiêu hùng, nghèo... được thêm bớt. Xem qua thì đúng nhưng nếu đã quá bồi thì
trở thành nô lệ, kiêu hùng chỉ còn là cái vỏ trống rỗng. Nếu kiêu hùng đến mức
nào đó thì người ta không bao giờ chịu làm bồi. Và hèn hạ đâu phải là một hình
thức thấp của kiêu hùng. Hai tiếng nghèo đói được nhắc nhở luôn luôn, đã nhàm
rồi. Nhiều người xuất thân nghèo đói đã trở thành tàn nhẫn để trả thù xã hội,
họ nói chuyện nghèo đói rất giỏi, rất hùng biện nhưng họ đứng về phe gian
thương, họ dám nhơn danh những con Rồng cháu Tiên nghèo đói để nói huyên hoang,
khi cần.
David Riesman chia đại khái tánh
chất con người ra làm ba loại:
1. Những người do khuôn khổ cổ
truyền đào tạo, tự nhận chỉ là một bộ phận của xã hội, gia đình. Vua bảo chết
là vui vẻ chết hoặc khi chồng chết thì vợ vui vẻ lên giàn hỏa để được thiêu xác
(thời phong kiến ở Tàu, các bộ lạc đói kém)
2. Những người sống theo lý tưởng
cá nhân, lập nghiệp kinh doanh, lo luyện chí để đạt mục tiêu riêng (thời kỳ tư
bản)
3. Những người sống bằng dư luận
bên ngoài, (thời kỳ tiện nghi vật chất với số hàng hóa thừa thãi) ăn ở đi đứng
theo thời trang, theo công thức giao tế.
D.Riesman xác nhận rằng trong
thực tế của xã hội tân tiến Mỹ và Âu còn nhiều lớp người phức tạp, không đứng
hẳn vào một trong ba loại kể trên. (Xem bản dịch Pháp văn D.Riesman, La foule
solitaire, nhà Arthaud, Paris, 1966)
Chúng tôi thử nhìn xã hội Việt
Nam, dùng tiếng thông thường của văn nghệ để tạm so sánh:
1. Ở giai đoạn đầu với luân lý
phong kiếm kềm hãm, con người dính liền với bóng xế tà, với cỏ cây, với tiếng
quốc nhớ chúa, tiếng đa đa gợi nhà, với trời non nước. Sự tan hòa vào vũ trụ
của Ta đứng một mình trên ải đèo Ngang.
2. Ở giai đoạn nhì, con người là
Tôi, theo nghĩa lãng mạn Tây phương, tôi của Xuân Diệu "Tôi yêu Bao Tự mặt
sầu bi", "Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng", "Tôi muốn
buộc gió lại, cho hương đừng bay đi". Tôi là người hùng làm thầu khoán
theo kiểu Lê Văn Trương.
3. Ở giai đoạn thứ ba, con người
không là Ta, là Tôi nhưng là những "Khuôn Mặt". Đã là khuôn thì hơi
nhàm, theo công thức từ căn bản nhưng giãy dụa để ra vẻ độc đáo và độc đáo có
nghĩa là chạy theo công thức mới. Cá tính bị tiêu diệt mà không hay.
Cả ba giai đoạn "Ta, Tôi,
Khuôn Mặt" đều là hiện tượng tất yếu do mức sanh sản trong nước, dân số
lên cao hay xuống thấp. Theo D. Riesman thì khi dân số tăng quá mau (chết nhiều
nhưng sanh đẻ thêm nhiều hơn), người ta có xu hướng hy sinh số người thừa thải
trong xã hội, "chết đâu chết bớt cho thiên hạ nhờ". Đó là giai đoạn
của "Ta", cái ta chìm trong tập thể như hột muối hóa trong nước.
Nhưng xã hội tiến dần, dân số
trong nước không giảm, không tăng. Đó là giai đoạn kỹ nghệ xuất hiện và phát
triển. Con người trong giai đoạn nầy là "Tôi", là cá nhân với lý
tưởng riêng, sáng kiến riêng, tánh mạng riêng.
Khi dân số bắt đầu giảm sút với
giai đoạn hàng hóa thừa thãi con người trở thành "Khuôn Mặt" sống
theo dư luận bên ngoài, theo công thức, mất tất cả cá tính.
Ta, Tôi, Khuôn Mặt đều mang những
ưu điểm và khuyết điểm.
Đa số người Việt Nam ngày nay
đang ở giai đoạn nào? Ta, Tôi hay Khuôn Mặt?
Tình thế thật phức tạp, nhất là ở
đô thị. Kinh tế thiếu kém nhưng được nhiều sản phẩm viện trợ. Đẻ con đông nhưng
chết chóc nhiều vì chiến tranh. Muốn cắt bỏ những ràng buộc về văn hóa cổ
truyền nhưng lại phải gìn giữ. Và ai ai cũng muốn bám vào "dân tộc".
Chánh khách xôi thịt, những người làm "văn nghệ mới" vẫn thường nhắc
hai tiếng dân tộc khi cần tìm chỗ đứng.
Việt Nam là chiến trường thí
nghiệm của hai khối lớn trên thế giới, nhiều người nhận định như vậy. Có người
than vãn rằng người Việt đang chịu đựng sự thí nghiệm như bệnh nhân bị đè trên
bàn mổ, chịu đủ các thứ thuốc tê, thuốc bổ, thuốc hồi sinh. Thiết tưởng dầu dân
số ít, tài nguyên ít, dầu không cao không mập hơn ai, người dân Việt đau khổ vì
chiến tranh có đủ thẩm quyền để trả lời: Chúng tôi là một nước văn hiến. Chúng
tôi đã và đang chủ động thí nghiệm mọi triết lý. Các triết lý Âu Á từ xưa đến
nay đang bị chúng tôi thí nghiệm. Với cuộc thí nghiệm nầy, người Việt đang
trưởng thành, trở thành con người mới. Và những kẻ đem chúng tôi ra thí nghiệm
cũng bị hóa thân, trở thành con người khác. Người Việt Nam chịu đựng chiến
tranh nầy để làm bài học sống cho nhân loại.
Nhiều nhà khảo cứu, ký giả, quan
sát viên đến tận Việt Nam, ở Sài Gòn và đôi khi đến thôn quê hẻo lánh để tìm
hiểu, trắc nghiệm. Họ đưa ra nhiều nhận xét đầy mâu thuẫn, đính chánh tới đính
chánh lui. Về dân tộc tính, họ chỉ biết ghi chép vài nét vụn vặt.
Văn hóa dân tộc, dân tộc tính là
vấn đề rất cụ thể nhưng cũng rất trừu tượng. Nhiều điểm thực tế ghi chép bằng
con số, bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp lại mơ hồ. Và lắm khi điểm mơ hồ
mới là thực tế.
Chúng tôi cầu mong rằng: người
Việt đang và sẽ bao gồm những nét đẹp của ba giai đoạn Ta, Tôi và Khuôn Mặt.
1. Hòa mình với thiên nhiên nhưng
không đói kém, không mê tín.
2. Sống với lý tưởng nhưng không
ích kỷ, ám hại đồng loại không xem đồng loại là phương tiện.
3. Biết sử dụng những tiện nghi
vật chất, xem vật dụng do kỹ nghệ sản xuất là phương tiện chớ không lặn hụp loi
ngoi trong tiện nghi, trở thành một thứ đồ vật trong thế giới đầy đồ vật, để
cho đồ vật điều khiển ngược lại con người.
Người Việt Nam không muốn mang
bịnh rét rừng kinh niên thời trước và bệnh cô độc, bệnh suy yếu thần kinh thời
nay.
Người Việt Nam vốn biết mình biết
người, vì có tiềm lực nên khiêm tốn, không khoe khoang, vì đã quen đường dài
nên bình thản không nôn nóng, vì tự tin nên biết cách ứng phó với mọi hoàn
cảnh, gặp khó khăn thì giữ thái độ kín đáo, khôi hài cho qua buổi, gặp giông tố
thì mở rộng cửa trước và luôn cả cửa sau cho nhà không bị sập.
Việt Nam là một đóa hoa trong
những đóa hoa. Nụ hoa đang trải qua giông bão, đang mãn khai, đang kết trái.
Xem trái để hiểu gốc là một trong
những phương pháp mà chúng ta nên chọn. Vì miền Nam là đất mới. Nên tìm hiểu
những tác dụng qua lại giữa văn hóa Việt Nam và các luồng văn hóa khác (Tàu,
Pháp, Mỹ, Miên... ) Đó là sự va chạm vừa âm thầm, vừa gay go.
Văn hóa, dân tộc tính là những
danh từ mà mỗi người định nghĩa một cách nhưng ít ra người ta đã đồng ý ở điểm
căn bản: đó là sự thích ứng với hoàn cảnh để sinh tồn, đó là khí thế bộc lộ khi
va chạm với thiên nhiên, với người khác. (Làm thế nào để ăn no mặc ấm, giữ được
giá trị của mình, phát triển năng khiếu).
Nghiên cứu sự va chạm, sự thích
ứng ấy là việc làm thích thú. Nào là cách xây cất nhà cửa, cách chế biến thức
ăn với nguyên liệu địa phương. Nào là lối phát biểu ý kiến trước một sự kiện
hoặc thái độ trầm lặng khó hiểu. Ra đường ta nghe ngóng những lối khôi hài,
những giai thoại. Hơi đâu mà đòi hỏi hoàn cảnh yên ổn để tìm pho sách quý, để
đào vài ngôi mả hoang. Chúng ta làm việc cho chúng ta, vì chúng ta chớ không
phải vì được các học giả Tây phương khen ngợi (lề lối học tập của Đại học Tây
phương hiện đang bị sinh viên phản đối, đòi làm cách mạng Đại học).
Ta cứ lên đường, tìm những nét
tiêu biểu cho sự va chạm văn hóa, ta lấy ta làm chủ, ta sẽ vui khi thấy rằng
còn quá nhiều công việc để ghi chép nghiên cứu. Cao ly sâm là thuốc bổ. Chúng
ta hoan nghinh thái độ của vài bạn trẻ mua Cao ly sâm bỏ trong túi quần, lúc
buồn buồn, lúc hơi mệt thì nhai chơi cho vui miệng như ăn kẹo. Dùng Cao ly sâm
như vậy ắt sai phương pháp: Cao ly sâm là món dành riêng cho các cụ, trẻ mà
uống sâm thì "hàn", uống sâm phải đúng cân lượng, nhờ sự chỉ dặn của
y sĩ, củ sâm phải được chưng hoặc pha rượu. Nhưng các bạn trẻ ngỗ ngáo ấy muốn
thí nghiệm gấp cho biết, nhai chơi là chuyện vui, không bổ bề ngang thì cũng bề
dọc. Còn hơn là các cụ bất lực, muốn được hồi xuân nhưng hồi xuân không nổi,
mua Cao ly sâm đem về ngâm rượu rồi ngắm nghía, chiêm ngưỡng từng cái tay, cái
đầu của con sâm, uống lai rai với niềm thất vọng kín đáo, với thái độ siêu hình
cho rằng củ sâm cũng linh thiêng nào khác người, phải tôn kính nó.
Tìm thế nào? Chọn lựa những gì?
Quê hương đâu?
Đây không còn là lúc đùa giỡn với
danh từ, chúi mũi vào sách vở báo chí xưa. Sách báo ra mắt vào những năm đầu
thế kỷ thứ 20 là quý nhưng vẫn là thiếu sót. Cuộc sống hiện tại là quyển sách
lớn. Cái hiện tại ở xứ ta dính vào dĩ vãng, cuộc chiến tranh hiện nay phải chăng
có liên quan đến hậu quả của hiệp định Genève? Và cuộc khởi nghĩa 1945 vẫn khó
tách rời khỏi cuộc chống Pháp năm 1940, khỏi cuộc vận động của Nguyễn An Ninh
Đông Kinh Nghĩa Thục về trước nữa.
Sách báo là một trong những thứ
tài liệu mà thôi. Lắm khi báo lại là sử liệu xấu, vô duyên của ngày tháng mà nó
ra mắt.
Chúng ta nên thử xê dịch ra khỏi
thành phố để hiểu thành phố. Trước tiên là ngoại ô. Mấy tiếng "chòi tranh
vách đất" đã lỗi thời rồi. Ngoại ô bây giờ là vùng nước đọng, là ruộng rẫy
của mấy năm về trước. Thành phố cổ điển "hòn ngọc Viễn Đông" đã nới
rộng, nếu không nói là vỡ tung ra, không tài nào thiết kế nổi. Từ ngõ hẻm, gần
giờ làm việc ta bắt gặp nhiều khuôn mặt. Họ mặc áo ka-ki để đi làm phu hoặc mặc
áo dài với son phấn đi xe đạp hoặc xe gắn máy, ra đi với cái bụng hơi đói. Hoặc
trước khi đi, cái bàn tay móng sơn đỏ đã chia sớt phân nửa củ khoai, một mẩu
bánh mì với bầy con lao nhao lố nhố.
Vùng ngoại ô còn nhiều bến đò,
nhiều bến xe ngựa, xe lam. Nên nghe những mẩu chuyện vì dân tộc tính thường bộc
lộ ở cách nói khôi hài. Thí dụ như muốn trị bịnh đau bụng kinh niên thì nên
dùng bột mà nắn hình 9 hoặc 7 con chó nhỏ rồi nuốt vào bụng, đàn ông nuốt 7,
đàn bà nuốt 9. Mấy con chó bằng bột ấy sẽ chạy vào ruột mà xơi phần, chứng đau
bụng tức khắc sẽ hết.
Còn gì dễ hiểu và khó hiểu bằng
câu chuyện súng đạn, giặc giả xảy ra tại vùng nào đó, do anh tài xế kể lại. Vừa
kể anh ta vừa nheo mắt, vừa cười để rồi hòa cả làng. Ai biết anh ta đứng về phe
bên này hay phe bên kia? Lại còn những ông trưởng ấp, lãnh nhiệm vụ suốt tám
chín năm mà vẫn sống nhăn, nhờ ăn nói khéo léo và biết uống rượu. Nhiều bà lão
sống ở ngoại ô Sài Gòn từ đời ông nội ông cố, lớn lên cứ buôn bán quanh quẩn,
trồng rau cải, chưa bao giờ đặt chân đến đường Tự Do. Bà kể lại việc khai hoang
ở ngoại ô, sự thay đổi các bến sông, kinh xáng và nếu gợi ý, bà sẽ giúp nhiều
tài liệu về bối Ba Cụm. Bối là một thứ trộm cắp giữa ban ngày trên sông rạch,
với kỹ thuật tinh vi, đã xảy ra hồi thời ông Trịnh Hoài Đức mãi đến thời Pháp
thuộc. Rời ngoại ô, chúng ta đến viếng những vùng hơi xưa. Mười tám thôn vườn
trầu, chuyện ông Phan Công Hớn ở miền Đông. Ba Giồng, bên nầy Tiền Giang nơi
kết tụ hào khí: Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương.
Tháp Mười là thứ kiến trúc như
thế nào? Lại còn một vấn đề đáng suy gẫm: chúa Nguyễn Ánh phục quốc được là nhờ
hậu thuẫn miền Nam, nhờ vựa lúa miền Nam, nói cụ thể là nhân lực, vật lực của
Ba Giồng. Tại sao vào lúc ấy anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lại bị cô lập ở miền
Nam?
Trận thủy chiến mà Nguyễn Huệ
đánh tan mấy vạn binh Xiêm thuộc phe chúa Nguyễn ở Tiền Giang dường như chẳng
được ca ngợi cho lắm đối với người miền Nam, mặc dầu đó là chiến công của dân
tộc. Phải chăng vì người miền Nam "ăn cơm Chúa" nên muốn giữ lòng
trung hậu? Tân Hiệp, Thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim, Chợ Giữa, Cai Lậy, Cái Bè từ bao
giờ đến bây giờ vẫn là nơi đào tạo những người dân tốt nhứt của đất nước. Ta đã
gặp "miệt vườn". Về vườn là giấc mơ của mọi người. Miệt vườn là thiên
đường, là tinh hoa của đồng bằng sông Cửu Long.
Ghe ai đỏ mũi xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em,
"Đỏ mũi, xanh lườn" là
màu sắc do quan lại thời xưa qui định để kiểm soát việc đăng bộ ghe thuyền từng
vùng. Gia Định là vùng tỉnh Gia Định với đám dân hai huyện theo chân Nguyễn Hữu
Cảnh, từ miền Trung và Nam, tiêu biểu cho văn hóa chánh thống vùng Đồng Nai.
Xuống vườn là đến vùng mà ngày nay các nhà quân sự, kinh tế gọi là đồng bằng
sông Cửu Long. Đó là "miệt vườn" nơi đã khẩn hoang thành công, có xóm
nhà san sát, nơi ruộng đất không còn một tấc bỏ hoang. Người khẩn hoang đã thực
hiện được chí lớn, nên cửa nên nhà, tạo lập được miếng vườn để dưỡng già (một
thứ lương hưu trí của nông dân). Miệt vườn là nơi có đình chùa. Đất hoang trở
thành đất thuộc (thuần thục, nói trại là thành thuộc) không còn bưng biền. Ai
cũng có ăn, không ai nghèo đáo để.
Miệt vườn là những giồng đất cát
pha ở bờ sông rạch, có nước ngọt. Đó là vùng Cao Lãnh, Nha Mân, Cái Tàu, Cái
Thia, Cái Bè, Chợ Lách, Cái Mơn ở Tiền Giang, hoặc là vùng Bình Thủy, Phong
Điền ở Hậu Giang. Nơi đây mức sống khá cao, văn minh đồng quê phát triển tột độ
với những cô gái trắng da dài tóc, biết nấu nướng, biết làm bánh khéo, nói năng
lễ phép, biết hát biết hò, cấy lúa giỏi. Sau nhà là vườn cây ăn trái. Dưới sông
có nhà mát, cầu tắm. Trước sân, vài chậu kiểng kiểu mẫu tử, xuy phong.
Mẹ mong gả thiếp về vườn...
Nơi không có đồi núi thì sông
rạch làm tiêu chuẩn về phong thủy: Miệt vườn là nơi "sông sâu nước
chảy" (thông lưu quán khái), hợp vệ sinh, nhiều phù sa, giao thông dễ
dàng, vì vậy mà con người không có óc địa phương cực đoan. Phù sa ở lại, rác
rến trôi. Nếu soạn địa phương chí, chúng ta có thể qui định ba khu vực văn hóa
từ cao đến thấp:
1. Vùng Gia Định - Đây là vùng
"dinh", văn minh chợ phố.
2. Miệt vườn, những thôn xóm mát
mẻ ở bên bờ Tiền Giang, Hậu Giang. Nơi thơ Lục Vân Tiên, hò vè chiếm ưu thế.
3. Vùng chưa khẩn hoang xong vì
thiếu nhân công, kỹ thuật: vùng Rạch Giá, Cà Mau với những xóm gọi khôi hài là
Hốc Bà Tó, voi Bà Khẹt, Cù lao Heo (địa danh có thật). Nơi mà bản vọng cổ chiếm
ưu thế.
Những người yêu nước chống đối
việc giao ba tỉnh miền Đông cho Pháp sau năm 1862 đã di cư đến Hậu Giang, mang
theo kiến thức, nghĩa khí. Trước đó Nguyễn Hữu Cảnh kéo binh theo Hậu Giang đến
tận Cao Miên, Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Công Trứ cũng đã đến vùng Hậu Giang. Vùng
biên giới với ruộng sạ, Vàm Nao và Thất Sơn. Cây me nước (me keo), bụi tre, bụi
đế, bụi nga ở bãi sông đóng vai trò cây đước ngoài biển. Cây me nước chịu ngập
nước mà không chết, lá xanh nhánh mềm như liễu. Cây tre giữ đất bồi ở bờ sông.
Vàm Nao chảy cuộn hung hăng, nơi bỏ mạng của bao nhiêu lương dân. Việc đào kinh
Vĩnh Tế là công trình to, huy động nhân lực nhiều nhứt ở miền Nam, thời đàng
cựu. Các nho sĩ đã xem những người chết vì đi đào con kinh biên thùy là những
chiến sĩ chết ở trận địa:
Sam sơn chi thượng hề
Cốc phong xuy.
Sam sơn chi hạ hề
Cam lộ tư.
Nhữ chi u trạch hề
Tối tương nghi.
Hồn hề, hồn hề
Luyến luyến ư hà di...
Vùng biên giới phía Hậu Giang
chính là vùng ba biên giới Việt Miên Xiêm, nơi các nho sĩ phong trào Duy Tân,
Đông Kinh Nghĩa Thục dùng thi văn để gợi lòng yêu nước. Số này khá đông đã từng
gặp ông Phan Bội Châu tại Châu Đốc. Những bài thơ bát cú "tàn mùa cổ
điển" đã nở muộn ở Hậu Giang.
Miền Nam là nơi đón nhận những
làn sóng Thiên Địa Hội, như trường hợp Mã Lai, Nam Dương. Tôn Dật Tiên đến Chợ
Lớn phải chăng là muốn dọ dẫm thái độ của Hoa kiều hải ngoại trong Thiên Địa
Hội? Đất Sài Gòn, năm 1913-1916 dư luận xôn xao về cuộc khởi nghĩa xưng vương
của Phan Xích Long.
Thiên Địa Hội còn là Phát Tế
Đường, Nghĩa Hòa Đường, Nghĩa Hưng Đường với lá cờ màu xanh, màu vàng, với
những bài thơ ngắn mà mỗi câu hay đôi ba chữ trong câu là một mật hiệu.
Thiên Địa Hội được phổ biến ở Hậu
Giang, đặc biệt là vùng biên giới Châu Đốc. Hồi đầu thế kỷ, người Tàu đến cư
trú do chánh phủ thuộc địa cho phép. Họ trồng nhãn, làm rẫy, mua bán tận hang
cùng ngõ hẻm. Thiên Địa Hội tạo ra những ông đạo ở vùng biên giới, ở dãy Thất
Sơn, sống trong thế giới bưng bít vì những đồi núi nầy dư khả năng tự túc về
kinh tế.
Chúng ta không quên cuộc dấy binh
do ông đạo Tưởng ở Tân Châu chủ xướng. Thiên Địa Hội bên Trung Hoa nương vào
triết lý Phật giáo và phép tu tiên "đạn bắn không lủng" để đánh đổ
nhà Mãn Thanh và bọn "Tây dương". Ở miền biên giới, người nông dân
Việt theo Thiên Địa Hội để kháng Pháp. Như trường hợp ông đạo Tưởng tu hành
hiền lành, bất chấp thế sự nhưng số tay em được tổ chức thành đảng, theo kỷ
luật đúng mức sắt thép, sẵn sàng thanh trừng đối phương hoặc kẻ phản đảng.
Đại ca Đơn Hùng Tín một thời đã
làm mưa làm gió từ Biển Hồ (Cao Miên) đến Long Xuyên gây khó khăn cho nhà cầm
quyền, một kiểu đảng cướp như ở miền Nam Ý Đại Lợi.
Ngoài vùng biên giới, nên kể đến
vùng duyên hải từ Gò Công, chín cửa sông Tiền sông Hậu đến Cà Mau, Rạch Giá, Hà
Tiên với cảnh đẹp, biển, hồ, đồi núi, gợi không khí chùa Hương, hồ Hoàn Kiếm,
vịnh Hạ Long và đồi núi Lạng Sơn - đúng là một chậu cảnh, một hòn non bộ miền
biên thùy. Từ 1945 về trước, tỉnh lỵ Hà Tiên là nơi hiền lành, dân chúng đều
quen biết nhau, chiều đến là nghe chuông mõ, khi cần tuyển chọn lính mã tà, nhà
cầm quyền phải kêu gọi bọn thanh niên từ tỉnh lỵ Rạch Giá qua. Hà Tiên gồm luôn
những hải đảo Vịnh Xiêm La. Ngư phủ miền Nam Trung phần đến thám hiểm, rồi
những chuyến tẩu quốc, những trận hải chiến Nguyễn Ánh - Tây Sơn. Quân sĩ Gia Long
đến hải đảo xa nhứt: hòn Thổ Châu (Poulo Panjang). Ngư phủ Việt Nam đến tạm trú
hoặc lập nghiệp chốn hoang vu. Nơi vàm sông bao la khi nước Cửu Long từ Tây
Tạng đổ xuống ầm ầm, họ dám đóng đáy, bắt cá tôm. Đêm mưa gió đen tối, họ ra
giữa vàm, vuột tay là chết mất xác. Trên sông rạch, kinh xáng và biển khơi,
người Việt miền Nam đã dùng nhiều kiểu ghe xuồng khá độc đáo, mô phỏng hoặc
sáng tạo theo kiểu Xiêm, Miên, Lào, Trung Hoa.
Chuyện cổ tích, giai thoại ở đồng
bằng sông Cửu Long cũng khá nhiều. Người khó tánh sẽ cho rằng đó là chuyện cổ
tích Miên, Tàu hoặc chuyện từ miền Trung phổ biến vào, chẳng độc đáo. Tuy nhiên
nếu sưu tầm và nghiên cứu chúng ta gặp nhiều chi tiết khác, sửa đổi lại. Tại
sao có sự sửa đổi ấy? Phải chăng vì người lưu dân đã quên, nhớ mang máng hoặc
họ cố ý sửa đổi cho hợp với hoàn cảnh địa phương? Chuyện người đi câu nơi ao
Trời, chuyện cái nồi đồng từ đáy sông nổi lên có lẽ được truyền tụng từ miền
Quảng Trị nhưng khi đến Vĩnh Long thì chi tiết thay đổi và trở thành chuyện của
con rạch địa phương. Hoặc là chuyện Hà Bá, chuyện Long Vương tại ngả ba sông
lớn, nơi tình cờ anh thợ chài lặn xuống nước gặp nào là lâu đài, dinh thự.
"Mô phỏng chuyện cũ, chế
biến chuyện cũ" là trình độ văn hóa thấp. Nhưng lắm khi mô phỏng lại đánh
dấu một sự thành công, là sáng tác.
Vùng U Minh thật xứng đáng với
nghĩa đen là cõi U Minh - chốn âm phủ - với cây cối rậm rạp mọc trên vùng đất
sình lầy, rắn rít muỗi mòng. Loại sấu cá sanh nở lúc nhúc, bên cạnh loại cọp Gò
Quao ăn đất sét, bắt cua, bị kẹt đuôi trong bụi dừa nước! Nơi phần đất khó khai
phá nầy, bọn lưu dân đến bắt chim ở Sân chim, gặp nhiều di tích lạ từ những
chiếc ghe xưa "bằng đồng" chôn vùi dưới đất (tục truyền là của ông
Bổn Đầu Công để lại), đến những nền nhà xưa, những ngôi miếu cổ, những chiếc
đầu lâu to lớn, những xác người chôn trong chiếc ghe!
Người đi khai hoang tỏ ra khiêm
tốn, tin rằng trước khi họ đến thì "đất nước" U Minh đã là nơi ngự
trị của người khuất mặt, của cọp sấu thành tinh khôn hơn người.
Giang sơn gấm vóc, địa linh nhân
kiệt là danh từ tốt đẹp, gợi ý nghĩa phấn đấu và xây dựng nhọc nhằn. Thêu hoa
dệt gấm, tạo vũng bùn lầy không chưn đứng trở thành một cái nền cứng rắn và
vững như núi. Người thất học với kỹ thuật thô sơ, với máu huyết bị vi trùng sốt
rét đục khoét đã giữ được nụ cười của người anh hùng chốn rừng xanh củi lục.
Người ta kể chuyện, bên đống lửa
giữa rừng thiêng. Năm đó, cô gái hơn 18 tuổi theo cha đến vùng Kè Một, ải địa
đầu của rừng U Minh, nơi bao người bỏ xác vì dám giành đất với bầy cọp thành
tinh. Nàng tên là Thị Cư, đến phá rừng và hứa đem mạng sống của nàng để cúng
cho bầy cọp, nếu bầy cọp để cho nàng được yên ổn đến khi gặt hái xong mùa lúa
đầu tiên. Ngày hẹn, một mình nàng dùng võ lực thanh toán bầy cọp thứ nhứt.
Nhưng cọp vi phạm luật rừng xanh, bầy cọp thứ nhì kéo tới. Trong lúc cứu cha,
nàng bị cọp vồ mất xác. Người địa phương đến sào huyệt bầy cọp mà khiêu khích,
chửi mắng về hành động hèn hạ nọ. Bầy cọp xấu hổ rút qua rừng khác, để lại cái
đầu lâu của nàng. Người cha ôm cái đầu lâu ấy mà khóc, ngồi lì với câu hỏi:
"Con chết ưng hay chết oan?" Cái đầu ấy được chôn sâu vào lòng đất,
dằn xuống bằng những gốc cây to để cọp khỏi bươi móc, cướp trở lại. Cây cỏ mọc
lên, lan rộng một vùng, chẳng ai biết đích xác cái đầu lâu chôn ở điểm nào.
Lại còn chuyện "ma ăn ở ngay
thẳng" mà người Miên gọi là chuyện NeakTrong (người lương thiện) những
người bí mật ở giữa rừng. Vào mùa lúa chín, thỉnh thoảng vài bó rơm từ trên
rừng trôi xuống. Đêm sáng trăng, đâu đó từ ngọn tràm xa xôi vang lên tiếng cười,
tiếng chày giã gạo, gà gáy chó sủa. Ai đánh bạo dám vượt sình lầy thì đến nơi
nào đó tình cờ gặp xóm nhà cao ráo, có chó chạy ngoài sân, trong nhà cơm dọn
sẵn, món ăn vơi lần hồi, những cái hũ rượu nhấc lên hạ xuống, trong bếp thì lửa
cháy, khúc củi từ từ đút vào lò. Dân trong vùng tin rằng đó là nơi cư ngụ của
những người khuất mặt, chẳng bao giờ người phàm mắt thịt thấy được. Đến hôm nọ,
một thằng bé giữ chim ở sát ven rừng bị mất tích. Ngày qua tháng lại chẳng ai
tìm gặp xác nọ. Chuyện bị lãng quên. Đôi ba năm sau, thằng bé lại về xóm, thuật
lại đầu đuôi tự sự: Hôm xưa ngồi tại chòi, nó gặp ông lão lạ mặt rủ đi chơi. Nó
đến xóm giữa rừng, ông lão gả con gái cho, hai vợ chồng ăn ở sanh một con.
Đời sống thảnh thơi đủ ăn đủ mặc,
ban ngày vợ ra đồng cày cấy, chồng ở nhà giữ con, uống rượu. Thế rồi đất bằng
sóng dậy. Một hôm con khóc, nó dỗ con rằng: "Đừng khóc, mẹ mày đi mua
bánh, lát nữa đem về cho mày ăn". Khi người mẹ về, đứa con khóc đòi bánh,
hỏi ra thì biết rằng nó đã nghe lời nói dối của cha. Chuyện ấy lại thấu tai ông
lão, ông lão đến gặp chàng trai, cho biết rằng ở xứ này cấm nói dối, ai nói dối
thì bị đuổi đi nơi khác. Nói xong, ông lão nắm tay chàng trai, đưa vào rừng.
Một đỗi thấy đồng cỏ trước mặt, ông lão bèn nói: "Trước kia, quê quán mầy
ở đó, chỗ có mấy ngọn cau. Mầy theo hướng đó mà về". Nói xong, ông lão
quay mặt, mất dạng. Chàng cứ bước tới, thỉnh thoảng day lại để nhận ra vị trí
của quê hương vợ. Nhưng hỡi ôi, hễ chàng đi tới thì rừng cây cứ mọc thêm, lấp
phía sau lưng. Chàng về xóm, sống với người phàm mắt thịt mà tâm trí cứ bâng
khuâng, vừa hờn giận, vừa hối tiếc. Trong xóm kẻ thì sợ sệt, kẻ thì chế giễu,
xem giai thoại mà chàng kể như những ảo tưởng của người bị ma bắt, ma giấu,
nghĩa là khật khùng. Không rõ từ đó người ta gặp những bó rơm trên rừng trôi về
hoặc nghe tiếng giã gạo xa xôi nữa chăng? Chỉ biết là mươi năm sau, một đêm
trăng tỏ ai nấy đều nghe tiếng khuấy nước ào ào dưới rạch, xen lẫn tiếng heo
kêu, trẻ khóc. Hàng chục chiếc xuống từ phía rừng sâu bơi xuống. Biết rằng đó
là những người khuất mặt, người trong xóm hỏi thử:
- Bà con đi đâu vậy?
Họ trả lời rằng bấy lâu họ ở giữa
rừng, đêm nay phải dời qua xứ khác vì ở xứ này khó ở. Một bọn người sắp tới
chiếm cứ, bọn đó gian xảo, giả dối, không thể nào sống gần được.
- Nhưng đi đâu?
- Đi về một nơi xa lắm, ở trên
núi cao trên trời. Tụi tôi đi đây!
Và ai nấy ngạc nhiên khi thấy mấy
chiếc xuồng ấy từ từ bay lên, hổng mặt nước rồi lơ lửng, rút lên mây bạc. Vài
tháng sau, quả thật bọn thực dân Pháp đến ven rừng U Minh, hồi cuối thế kỷ 19,
sau khi dẹp cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực.
Nói đến nông thôn, chúng ta mới
hy vọng đạt được dân tộc tính. Đa số nông dân, một số đông thị dân miền Nam vẫn
còn giữ được niềm hăng say vô điều kiện của tiền nhân hồi thuở nào.
Niềm hăng say ấy khó mà nói rõ:
Lúc nào người dân cũng uể oải lười biếng nhưng nếu phải thức suốt đêm thì cũng
dư sức mà thức. Lúc nào cũng nghèo, hoang phí đến mức rỗng túi nhưng nếu cần
xài to thì cũng dám bán tài sản mà xài. Qua cơn gió lốc của chiến tranh, của
thời đại kim tiền vật chất, một số ít người thành thị đã trở thành xa lạ với
nông thôn, họ không hiểu thấu đáo được tâm lý. Vì làm sao hiểu được, nếu cứ chủ
quan "suy bụng ta ra bụng người". Ta ham tiền, hễ thấy ai làm điều gì
vô tư thì ta cứ cho rằng họ làm vì tiền, nhưng kín đáo. Ta ích kỷ, hễ thấy ai
làm điều gì có tách cách vị tha thì cho rằng đó là một kiểu ích kỷ tinh vi.
Trong trường hợp nước ta, người nghiên cứu văn hóa chỉ tìm được việc làm hữu
ích khi thâu thập tài liệu, nghe nóng với tâm hồn yêu dân tộc, yêu nhân loại,
tự tin. Để góp viên gạch nhỏ, góp hột cát vào lâu đài mà các thế hệ sau sẽ hoàn
thành. Thí dụ như chuyện cô gái đánh cọp, chuyện những người khuất mặt. Chúng
ta nên ghi chép, so sánh với những chuyện "nhập Thiên Thai", chuyện
thú thành tinh của Trung Hoa, Cao Miên nhưng với thái độ là nhập thân vào tiền
nhân để hiểu nguyện vọng sâu xa thầm kín của tiền nhân, để kêu gọi người khuất
mặt đã về trời hoặc để cúi đầu mà hỏi "con chết ưng hay con chết oan"
với cái đầu lâu, với hậu thế.
Văn hóa là mãnh lực tinh thần, đã
là mãnh lực thì tuôn chảy thao thao, biến hóa huyền ảo. Ôm ấp khư khư một giai
đoạn, một hình thức tức là mang tội u mê mà liệt sĩ Trần Quí Cáp đã nguyền rủa
khi đề cập đến bọn quan lại Nam Triều ích kỷ, "độc lạc mỗi ngày ca võ mãi".
U mê có lẽ là đồng nghĩa với vong
thân. Cái u mê của người giả vờ quên thế sự, của bọn Tống Nho khư khư ôm chồng
sách vở cũ, ôm những biểu tượng mơ hồ để mà tạ mãn.
Cái u mê của người thêu dệt những
thành tích của mình hồi mấy năm về trước, hồi kháng Pháp rồi cho rằng ta đây là
vô địch về yêu nước. Cũng như cái u mê (đã qua rồi) của người chạy theo thời
trang, chạy nợ để mua cho bằng được chiếc xe gắn máy Nhựt, ban đêm cứ lau chùi
chiếc xe rồi vặn đèn lên cho sáng nhà, đem chiếc xe để trên cái đi-văng mà ngắm
nghía.
Vấn đề chánh là sự can đảm và
khởi điểm mới. Người Việt là một trong những nhóm Bách Việt từ bờ sông Dương Tử
tiến về bờ biển để tìm đất mà sanh tồn. Chúng ta đã tiếp nhận, dung hòa và
chống trả, đào thải những gì không thích hợp của những nhóm khác trong Bách
Việt, của Trung Hoa, của Tây phương. Với những khởi điểm Việt Nam, ngành khoa
học nhân văn sẽ dư tài liệu mà làm việc trong lúc nầy và thiếu thời giờ để làm
việc. Đó đây tràn ngập tài liệu - nước ta là đất mới, nước ta đã và đang cố
giành chủ động trong sự đón tiếp và thử thách các luồng văn hóa - tài liệu ở
thôn quê, ở những khắc khoải của đầu bạc lẫn đầu xanh, ở người còn sống, người
đang chết. Sử dụng các tài liệu ấy với thái độ chịu khó, khiêm tốn.
Khoa học nhân văn là một cục sắt
nóng chảy khó nhìn rõ, khó điều khiển chớ nào phải là một cánh hoa khô ép sẵn
trong sách.
Dám thách đố những khó khăn ấy,
chúng ta mới có đủ tư cách để cầu nguyện cho mẹ Việt Nam, cho Tổ Quốc vì chúng
ta đã gặp, đã tán thành cái định nghĩa về mẹ Việt Nam, về Tổ Quốc mà đồng bào
đã bộc lộ, van vái trong dịp long trọng, lúc cần tìm lực lượng tinh thần để
vượt gian nguy. Đó là "Đất đai viên trạch, Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền
khai cơ". Đó là "Ông Bà Đất Nước".
Tháng 11 năm 1967
SƠN NAM