.
Bài đăng mới
print this page

Sách của Thầy Thích Thông Lạc

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Sách hay chia sẻ, Phật pháp cho người hữu duyên. Bạn có thể download sách của Thầy Thích Thông Lạc theo các đường link dưới đây:



Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Gợi ý: Bạn nên tải và đọc trước tác phẩm: 'Đường về xứ Phật'; 'Những lời gốc Phật dạy'; và 'Đạo đức làm Người'. Nếu bạn quan tâm đến Thiền nên tham khảo thêm: 'Trở về đạo Phật'

Bốn sự thật của loài Người

Khi nghiên cứu về đạo Phật, các nhà học giả phần đông ai cũng ra công tìm hiểu TỨ DIỆU ĐẾ. TỨ DIỆU ĐẾ là pháp môn đầu tiên của đức Phật, từ khi tu chứng đạo và đem pháp môn này ra dạy cho năm anh em Kiều Trần Như. Đó là chuyển pháp luân lần đầu tiên trong lịch sử của Phật giáo. Pháp môn này không có một tôn giáo nào trên hành tinh này có được. Ngài dám khẳng định về con người có bốn sự thật cần phải hiểu rõ. Nếu không hiểu rõ bốn sự thật này thì con người không bao giờ thoát ra mọi sự đau khổ của cuộc đời.

Có bảy pháp hằng ngày cần tu tập

LỜI PHẬT DẠY

1- Quán thân bất tịnh.

2- Quán thức ăn bất tịnh.

3- Không say đắm thế gian.

4- Thường nghĩ đến sự chết.

5- Luôn nghĩ đến vô thường.

6- Nghĩ đến đời sống là khổ và vô thường.

7- Luôn nghĩ đến khổ và vô ngã.

Nhìn đời bằng nhân quả

“Phải thấy nhân quả, đừng thấy đúng sai, phải trái, xấu tốt, trắng đen, đó là sự thật của cuộc đời này, nếu thấy đúng sai, phải trái, tốt xấu, trắng đen, là thấy sai sự thật”. 
Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Ái kiết sử, Thất kiết sử, Ngũ cái

Ái kiết sử

Hỏi: Kính thưa Thầy! Người muốn đi tu mà duyên nghiệp cứ buộc ràng, không thể bỏ đi được, là do duyên gì, nhân gì, xin Thầy chỉ dạy cho con hiểu?

Đáp: Người muốn đi tu mà duyên nghiệp cứ buộc ràng, không thể bỏ đi được, có ba nguyên nhân chính:

1- Nợ nhân quả quá nặng.
2- Thất kiết sử quá dầy.
3- Ngũ triền cái ngăn che.

Đó là ba nguyên nhân khiến cho người muốn đi tu theo đạo Phật rất khó vượt qua, đó cũng là ba mạng lưới bao vây kiếp con người, mãi mãi trôi lăn trong biển sanh tử, luân hồi và nhiều khổ đau trong nhiều đời nhiều kiếp.

Chỉ có người trí hiểu biết và còn phải có đủ nghị lực, can đảm, gan dạ, mới vượt ra khỏi, mới biết được những sợi dây xích kiết sử tuy vô hình nhưng nó chắc hơn những sợi dây lòi tói.

Con có duyên với Phật pháp, nhưng tánh con yếu đuối không thể vượt qua bức tường nhân quả, vì thế con nên tu trong chiếc áo của người cư sĩ:

1- Tu tập xả ly năm triền cái bằng đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

2- Luôn luôn trau dồi thân tâm trong mọi hành động thân, khẩu, ý bằng “Tứ Vô Lượng Tâm”: Đức hạnh Từ, Bi, Hỷ, Xả.

3- Dứt bỏ 10 điều ác và cố tăng trưởng 10 điều lành.

4- Cần phải thông hiểu và nghiên cứu tường tận đạo đức nhân bản nhân quả không làm khổ mình, khổ người.

5- Hằng ngày phải nhớ dùng pháp hướng tâm như lý tác ý: “Tâm như đất, tham, sân, si phải đoạn diệt sạch”

Người cư sĩ cần tu năm pháp môn này, thân tâm được an vui và hạnh phúc trong cuộc sống, chẳng có đối tượng, hoàn cảnh, sự việc nào làm dao động tâm được, đó chính là nguồn giải thoát của đạo Phật trong mọi người cư sĩ, con hãy cố gắng lên! Cố gắng lên tu tập con ạ!

Khi tu tập xả tâm như vậy, tức là con tu tập đạo đức làm người không làm khổ mình, khổ người, không làm khổ mình, khổ người là con đã trả vay nghiệp nhân quả của tiền kiếp, trả vay nhân quả của tiền kiếp tức là con bứt bỏ thất kiết sử, khi bứt bỏ thất kiết sử thì con không còn phóng dật, tâm con không còn phóng dật tức là tâm định trong thân con, tâm định trong thân thì tâm thường thanh thản, an lạc và vô sự, tâm thường thanh thản an lạc và vô sự thì tâm luôn luôn biết hơi thở ra vô một cách tự nhiên không bị ức chế hay bị gom tâm tập trung vào một chỗ.

Khi tâm định trên thân như vậy thì lúc bây giờ là lúc tu thiền định để nhập các định sâu hơn và khó hơn.

Còn nếu con bứt bỏ ngang mà đi tu thì dù con có tu đúng chánh pháp của đạo Phật cũng trở thành tà pháp, tại sao vậy? Tại vì sự bứt ngang bỏ đi, đó là ức chế tâm, chứ không phải xả tâm và như vậy con sẽ bị rơi vào tà thiền, tà định chừng đó con sẽ sống trong Tà kiến của ngoại đạo rất là khó gở.


Thất Kiết Sử là bảy pháp trói buộc con người, khiến cho đau khổ. Bảy pháp đó gồm có:

1/. Ai kiết sử: lòng thương yêu, ưa mến, thích thú của mình đã trói buộc lại mình, làm khổ mình.

2/. Sân kiết sử: lòng sân hận, buồn tức, giận dữ của mình đã trói buộc lại mình, làm hổ mình.

3/. Kiến kiết sử: sự cố chấp cho sự hiểu biết của mình là đúng, còn tất cả sự hiểu biết khác cho là sai. Thế là nó đã trói buộc mình, làm khổ mình, và ai nói gì mình cũng chẳng nghe.

4/. Nghi kiết sử: lòng nghi ngờ tự trói buộc mình, chẳng bao giờ chịu rời bỏ khiến cho mình mất hết nghị lực.

5/. Mạn kiết sử: lòng ngã mạn, kiêu căng, tự đắc, tự trói buộc mình, lúc nào cũng tự xem mình là trên hết. Chính lòng hiu hiu tự đắc nầy đã làm khổ mình mà không dứt bỏ.

6/. Hữu tham kiết sử: những vật mà mình buông bỏ chẳng được, cứ bị nó trói buộc, làm khổ mình hoài.

7/. Vô minh kiết sử: điều mình không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình đã hiểu.

Thí dụ: không hiểu Tứ Thánh Định mà cứ cho là mình hiểu nên xếp nó vào loại Tiểu Thừa thiền, phàm phu thiền, ngoại đạo thiền. Không ngờ thiền nầy là Thánh Trú, là Phạm Trú, Như Lai Trú, vv..


Ngũ Cái hay Ngũ Triền Cái là năm cái màn che đậy:

1/. Tham triền cái: Tham là lòng ham muốn của mình che đậy, làm cho mình không thấy vật ham muốn đó sẽ làm khổ mình.

Thí dụ thấy một chiếc xe Dream (xe mô tô hiện đại của Nhật) khởi tâm ham muốn, tìm mọi cách làm để mua sắm nó. Đó là cái khổ thứ nhất.
Đến khi sắm được xe, chạy xảy ra tai nạn gảy chân tay. Đó là cái khổ thứ hai.

Thế mà khi lòng ham muốn nổi lên, người ta không thấy cái khổ. Cho nên gọi đó là triền cái (ngăn che không thấy khổ).

2/. Sân triền cái là lòng tức giận, ngăn che không thấy khổ. Thí dụ khi nghe người khác mạ nhục, mình tức giận rút cây, hoặc dao rựa ra đánh, hoặc chém người cho hã giận. Khi hết giận thì sự khổ phải ôm lấy, như nằm nhà thương, hoặc ở tù. Lòng sân che đậy không thấy sự khổ sẽ đến với mình đầy dẫy trong cuộc sống hàng ngày nên gọi là sân triền cái.

3/. Si triền cái là cái màn che trí tuệ làm cho nó không hiểu biết chánh pháp, tà pháp, thiện ác. Ví dụ, người ta nói thiền xuất hồn là của đạo Phật, chúng ta liền tin theo, mà không cần suy nghĩ, đó là si triền cái.

4/. Mạn triền cái là cái tự kiêu, tự đại che ngăn làm cho mình không thấy cái chỗ dở của mình. Thí dụ như mình ăn phi thời, phá giới luật, có vợ con, mà vẫn xem mình là một thầy tu, hiu hiu tự đắc, lên pháp đường thuyết giảng mà không biết xấu hỗ, thì đó là bị mạn triền cái ngăn che.


5/. Nghi triền cái là cái lòng nghi ngờ ngăn che không thấy sự thật. Ví dụ, người ta nói một số pháp môn tu tập hiện hành là mê tín, là không đúng theo lời dạy của Phật, mình không tin, nghi ngờ lời nói đó sai (vì các pháp môn nầy do các Thầy, Tổ truyền lại). Chỉ tin vào Thầy, Tổ mà không chịu tìm hiểu cho rõ ràng, đó là bị nghi triền cái che ngăn.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Duyên nhân quả vợ chồng

Hỏi: Kính thưa Thầy, vợ chồng lấy nhau, người ta bảo rằng, đều có số định cả, có nghĩa là người này phải lấy người mà có số định với mình, không được lấy người nào khác. Có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Không phải số định mà cũng không phải số mệnh mà là duyên nhân quả nợ vay trong thuận cảnh, cũng như trong nghịch cảnh.

Ví dụ: Kiếp trước chúng ta đối xử với những người làm công cho mình quá khắc nghiệt, đánh đập, chửi mắng, trả tiền công ít, v.v..

Những mê tín dị đoan thường gặp

Những đoạn dưới đây được trích cuốn “Đường về xứ Phật” và cuốn “Người Phật tử cần biết” nói về những mê tín dị đoan dưới hình thức vấn đáp, Tự hiểu mình's Blog xin được trích đăng:

Nhân quả

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con có một số điều trăn trở, mong Thầy tháo gỡ giải tỏa cho con.

Đạo Phật dựa trên cơ sở nhân quả và luân hồi. Mặc dù con đã đọc các cuốn sách của Thầy viết, như cái niềm tin trong con nó chưa được lớn, vì vậy sự buông xả còn kém cỏi, sự tu tập còn lười biếng. Con từ nhỏ tới nay, vẫn cứ cho rằng: “Con người chỉ sống có một lần, sau khi chết tất cả đều tan hoại”, đó là vì con đã tiếp thu những tư tưởng duy vật biện chứng. Con đã đọc: “Kinh Nhân Quả Ba Đời” nhưng con vẫn thấy nó mơ hồ trừu tượng nên con không tin.

Leo Tolstoy: Đi tìm ý nghĩa trong một thế giới vô nghĩa

Lev Nikolayevich Tolstoy
“Để có thể sống, một người hoặc phải không nhìn thấy sự vô hạn, hoặc phải có một lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống kết nối cái hữu hạn với vô hạn.”

Khi vừa bước sang tuổi năm mươi, Leo Tolstoy (9/9/1828 – 10/11/1910) rơi vào cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Để lại sau lưng những tác phẩm vĩ đại nhất, ông nhận ra cảm quan về ý nghĩa cuộc sống của mình bỗng đi xuống ngay khi  danh vọng và sự tung hê của dư luận đang cuồn cuộn dâng trào, ông chìm sâu vào chứng trầm cảm và luôn u sầu dù có một gia sản lớn, sức khỏe tốt so với tuổi của ông, một người vợ đã sinh cho ông mười bốn người con, và viễn cảnh về sự nổi tiếng vĩnh hằng trong giới văn học.

Trên bờ vực tự tử, lần cuối ông đưa tay ra nắm lấy tia sáng giữa bóng tối đang bủa vây lấy sự tồn tại của chính ông, để biến nó thành thứ triết lý, tôn giáo vĩ đại của thế giới, trả lời cho câu hỏi muôn đời về ý nghĩa cuộc sống. Năm 1879, một thập kỷ sau Chiến tranh và Hòa bình, hai năm sau Ann Karenina và một thập kỷ trước khi ông tập hợp những phát hiện triết học của mình và ghi này trong cuốn Calendar of Wisdom (Lịch minh triết), Tolstoy đã bàn về thảm họa của sự tồn tại trong đời sống nội tâm của ông trong cuốn A Confession (tạm dịch: Lời thú nhận) – một cuốn hồi k‎ý tự truyện tỏ rõ lòng mình và những cảm xúc mạnh mẽ đang trào dâng, tác phẩm cũng cho ta biết những tiên liệu của Tolstoy về tiền bạc, danh vọng, và những lý do sai lầm cho việc cầm bút.

Ông so sánh diễn biến chứng trầm cảm của bản thân như một căn bệnh thể chất nghiêm trọng. Tolstoy viết:

Giống như những gì xảy ra với người có vết nội thượng chí mạng. Lúc đầu những triệu chứng khó ở thoáng xuất hiện, không khiến người bệnh lưu tâm nhiều, sau đó những triệu chứng này lặp lại với cường độ thường xuyên hơn gây ra những cơn đau triền miên. Cơn đau ngày một dữ dội và trước khi người bệnh có thể hiểu chuyện gì đang xảy, triệu chứng khó ở đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với anh ta, hơn bất cứ điều gì khác trên thế gian – đó là cái chết!

Các triệu chứng đặc thù của việc mất khoái cảm bủa vây lấy ông – không còn đam mê cho công việc, từ bỏ cái danh vọng vĩnh hằng mà ông từng mơ ước bởi giờ nó đã trở nên thật vô nghĩa. Ông thậm chí dừng việc ra ngoài săn bắn với khẩu súng của mình, sợ rằng sẽ không vượt qua được cám dỗ mà tự kết liễu đời mình. Dù từ góc độ là một người sáng tạo, ông không thừa nhận sự tồn tại của “một ai đó”,  ông dần cảm nhận cuộc đời mình là một trò lố mà “một ai đó” đã áp đặt lên – một trò lố mà khi người ta nhận thức được sự vô thường tất yếu của bản thân thì càng trở nên tuyệt vọng hơn.

Hôm nay hay ngày mai, bệnh tật và cái chết sẽ đến (chúng đã đến rồi) với những người tôi yêu mến và với cả bản thân tôi; không còn lại gì ngoài mùi hôi thối và dòi bọ. Sớm hay muộn thì những vấn đề của cá nhân tôi, dù có là gì đi chăng nữa, cũng sẽ bị quên lãng, và tôi không còn tồn tại nữa. Vậy tại sao phải cố gắng?…Làm sao người ta không thể nhận ra điều này? Và làm thế nào để tiếp tục sống? Đây chính là điều đáng kinh ngạc! Một người chỉ có thể sống khi người ta say xỉn với đời, ngay khi anh ta tỉnh táo trở lại hầu như không thể không nhìn ra cuộc đời chỉ là một sự lừa dối, một sự lừa dối ngu xuẩn! Đó chính là bản chất của nó: chẳng có gì vui nhộn hay dí dỏm về nó, đơn giản chỉ là tàn bạo và ngu xuẩn.

Nếu chỉ đơn giản hiểu rằng cuộc sống không có ý nghĩa, tôi đã có thể chịu đựng điều đó trong lặng lẽ và coi đó là điều may mắn của mình. Nhưng tôi lại không thể thỏa mãn bản thân với điều đó. Nếu tôi giống như một người đàn ông sống trong rừng, biết rằng lối ra không tồn tại thì tôi đã có thể sống, nhưng tôi lại là một kẻ lạc lối trong rừng, kinh hoàng lo sợ mình sẽ đi lạc và nháo nhào tìm cách thoát ra. Anh ta biết rằng mỗi bước anh ta đi càng làm anh ta thêm rối trí, nhưng anh ta không đừng được việc đâm quàng đâm bậy. Thực sự là kinh khủng. Để giải thoát bản thân khỏi nỗi kinh hoàng này, tôi đã muốn tự kết liễu đời mình.

Nhưng ông nhận ra rằng gốc rễ của căn bệnh tinh thần này, cuộc tìm kiếm không phải của riêng ông và nó cũng không phức tạp.

Câu hỏi của tôi…là câu hỏi đơn giản nhất, nó nằm trong tâm khảm của tất thảy mọi người, từ đứa trẻ ngây thơ tới cụ già tinh anh nhất, đó là một câu hỏi mà không có lời giải đáp thì người ta không thể sống được, như kinh nghiệm của tôi. Đó là: “Việc mình làm hôm nay hay ngày mai sẽ đem lại kết quả gì ? Cuộc đời này sẽ để lại điều gì?” Nói theo cách khác: “ Tại sao tôi sống, tại sao tôi lại muốn gì, hoặc làm gì?” Hoặc “Liệu cuộc đời tôi có một ý nghĩa nào đó  mà cái chết lăm le chực chờ phía trước cũng không thể phá hủy ?”

Để tìm câu trả lời cho câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng lại sâu rộng vô cùng này, ban đầu Tolstoy đã tìm đến khoa học, nhưng nhận ra thay vì nhận thức vấn đề và đi vào trả lời cho câu hỏi, khoa học lại tránh né nó và đặt ra những câu hỏi khác, rồi đi trả lời chúng. Trên hết, ông thấy rằng khoa học không có khả năng soi rọi cái vô hạn mà thay vào đó thu hẹp cả câu hỏi và câu trả lời về với cái hữu hạn. Ông viết:

Tất cả những lời này đều chẳng có ý nghĩa gì hết, vì trong vô hạn không có sự phức tạp cũng như đơn giản, không có tiến hay lùi, không có tốt hay xấu.

Một người thực sự muốn tìm kiếm cách sống không thể thỏa mãn với câu trả lời – “Nghiên cứu trong không gian vô tận các đột biến của các nguyên tử,  thời gian của chúng là vô cùng và sự phức tạp của chúng là vô hạn, và sau đó ta sẽ hiểu cuộc sống của chính mình” – và anh ta cũng chẳng thể thỏa mãn với câu trả lời: “Nghiên cứu toàn bộ cuộc sống của nhân loại, sự khởi đầu và kết thúc của cuộc sống ấy ta không thể biết, ta thậm chí cũng không thể biết một phần nhỏ của nó, và sau đó ta sẽ hiểu cuộc sống của chính mình.”

Một thế kỷ rưỡi trước khi Alan Lightman vật lộn với cùng một nghịch lý, Tolstoy đã nắm bắt được cái tình huống khó xử trong cuốn Catch-22:

Vấn đề của khoa học thực nghiệm là chuỗi các nguyên nhân và kết quả của hiện tượng vật chất. Chỉ cần khoa học thực nghiệm đưa ra câu hỏi về nguyên nhân cuối cùng là nó đã trở nên vô nghĩa rồi. Vấn đề của khoa học trừu tượng là sự công nhận bản chất nguyên thủy của cuộc sống. Chỉ cần khoa học trừu tượng đề cập tới việc nghiên cứu các hiện tượng hậu quả (như hiện tượng xã hội và lịch sử) là nó cũng đã trở nên vô nghĩa rồi. Khoa học thực nghiệm về sau chỉ đưa ra những kiến thức tích cực và thể hiện sự vĩ đại của tâm trí con người mà không đề cập tới việc nghiên cứu câu hỏi cho nguyên nhân cuối cùng. Trái lại, khoa học trừu tượng chỉ là một môn khoa học, hiển thị sự vĩ đại của tâm trí con người khi nó gạt sang một bên các câu hỏi liên  quan tới nguyên nhân kết quả của các hiện tượng và coi con người chỉ liên quan đến nguyên nhân cuối cùng.

Ông sau đó quay sang triết học, nhưng thấy thất vọng không kém:

Triết học không chỉ không đưa ra lời giải đáp mà còn lặp lại câu hỏi ấy. Nếu đây là triết học đích thực, thì tất cả công lao của nó chỉ nằm ở mỗi việc trình bày lại câu hỏi cho rõ ràng.

Thay vì một câu trả lời, ông tìm thấy ở triết học “cùng một câu hỏi, chỉ là trong một hình thức phức tạp khác.” Ông than phiền về sự bất lực của cả khoa học và triết học trong việc đưa ra một câu trả lời thỏa đáng:

Một loại kiến thức không trả lời được câu hỏi về cuộc sống, loại khác đưa ra câu trả lời khẳng định trực tiếp nỗi tuyệt vọng của tôi, cho thấy những kết luận mà tôi đi tới không phải là kết quả của cái tâm trí hỏng hóc hay bệnh tật của tôi, mà ngược lại những điều tôi nghĩ là đúng và suy nghĩ của tôi trùng lặp với kết luận của những tâm trí vĩ đại nhất.

Thất vọng, Tolstoy tự trả lời câu hỏi của chính mính:

“Tại sao mọi thứ hiện diện lại tồn tại và tại sao tôi lại tồn tại?” “Bởi vì nó tồn tại.”

Đó là cảm giác mà John Cage một thế kỷ sau trong(“No why. Just here.”) và George Lucas trong (“There is no why. We are. Life is beyond reason.”) – đã đưa ra một nhận định tương đương với tinh thần của Phật giáo. Và thực sự Tolstoy đã tìm tới tâm linh trong một nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng để tìm một lời giải đáp – trước hết bằng cách tìm hiểu những người sống quanh ông, làm cách nào họ có thể sống với những câu hỏi ngày đêm ám ảnh như thế. Ông đã tìm thấy ở họ bốn chiến lược để kiểm soát cơn khủng hoảng sự tồn tại, nhưng tất cả  chúng đều không giải quyết được vấn đề:

Tôi thấy rằng đối với những người sống quanh tôi có bốn cách thoát khỏi tình thế khủng khiếp mà tất cả chúng ta đều bị đặt vào. Cách thứ nhất là sự thiếu hiểu biết. Nó gồm việc không biết, không hiểu rằng cuộc sống là một điều tồi tệ và lố bịch. Từ (những người thuộc loại này) tôi không có gì để học – một người không thể không biết cái anh ta đã biết.

Cách thứ hai là chủ nghĩa khoái lạc. Nó gồm, trong khi hiểu sự tuyệt vọng của cuộc sống, tận dụng những lợi thế sẵn có của mình, không quan tâm tới việc lớn cũng như việc nhỏ, chỉ chăm chăm hưởng thụ theo cách tốt nhất, nhất là khi có điều kiện để tận hưởng…Đây là cách mà đa số những người sống quanh tôi áp dụng để khiến cuộc sống trở nên dễ thở hơn. Hoàn cảnh của họ đem đến cho họ nhiều điều để tận hưởng hơn là những khó khăn, và sự chai mòn về đạo đức cho phép họ quên rằng những lợi thế từ địa vị của họ là tình cờ… điều khiến tôi trở thành Solomon hôm nay cũng có thể biến tôi trở thành nô lệ của Solomon ngày mai. Sự thiếu nhanh nhạy trong tưởng tượng cho phép họ quên đi những điều khiến Đức Phật không thể yên lòng – hôm nay hoặc ngày mai những điều tất yếu như bệnh tật, tuổi già, cái chết sẽ làm tiêu tan những lạc thú này.

Cách thứ ba là sức mạnh và năng lượng. Nó gồm  việc tuyên chiến với cuộc đời khi nhận ra sự xấu xa và lố bịch của nó. Một số ít người đặc biệt mãnh mẽ và kiên định sẽ áp dụng cách này. Hiểu được trò đùa ngu ngốc được áp đặt lên họ, cái chết còn tốt hơn cả sự sống và có lẽ tốt nhất là từ đầu đã không tồn tại, họ hành xử theo cuộc đời và nhanh chóng kết thúc trò đùa ngớ ngẩn này, có vài cách để làm điều đó: một sợi dây thừng cuốn quanh cổ, nước, dao đâm thẳng vào tim, hay những đoàn tàu đang rầm rập trên đường ray, và số người quanh tôi áp dụng cách này ngày càng nhiều lên, và phần lớn họ làm việc đó khi đang ở đỉnh cao của cuộc đời, khi sức mạnh tâm trí họ nở rộ và những vài thói quen khiến người ta trở nên hèn yếu vẫn chưa thành hình.

Cách thứ tư là sự yếu đuối. Nó gồm việc nhận thức  sự thật của cuộc sống mà vẫn bám víu vào nó, biết trước rằng nó chẳng đem lại điều gì. Những người thuộc loại này hiểu rằng cái chết thì tốt hơn cuộc sống, nhưng lại không có sức mạnh để hành động theo l‎ý trí – tự kết liễu đời mình và nhanh chóng kết thúc sự giả dối này – dường như họ còn chờ đợi một điều gì đó. Đây là lối thoát cho sự yếu đuối, bởi nếu tôi biết điều gì là tốt nhất và tôi có thể làm, tại sao lại không làm?..Cách thứ tư này là sống như Solomon và Schopenhauer – biết rằng cuộc đời là trò đùa ngu xuẩn mà vẫn sống, tắm rửa, mặc đẹp, ăn tối, trò chuyện và thậm chí là viết sách. Điều này đối với tôi cực kỳ khó chịu và đau khổ, nhưng tôi vẫn ở nguyên vị trí đó.

Thấy mình thuộc loại thứ tư, Tolstoy bắt đầu đặt câu hỏi tại sao ông vẫn chưa tự sát. Đột nhiên ông nhận ra rằng một phần trong ông đang đặt câu hỏi về tính chính xác trong những suy nghĩ trầm cảm của mình, đưa ra một “nghi ngờ mơ hồ” về sự chắc chắn trong những kết luận của ông về sự vô tri của cuộc sống. Bị lúng túng vì nhận thức rằng tâm trí vừa là con rối vừa là thầy múa rối, ông viết:

Nó như thế này: tôi, lý do của tôi, đã thừa nhận rằng cuộc sống là vô nghĩa. Nếu không có gì cao hơn lý do (và không có: không có gì có thể chứng minh là có), thì lý do chính là người sáng tạo ra cuộc sống của tôi. Nếu lý do không tồn tại thì tôi cũng không tồn tại. Làm sao lý do có thể chối bỏ cuộc sống trong khi nó chính là người tạo ra cuộc sống? Nói theo cách khác, nếu không có cuộc sống, lý do của tôi sẽ không tồn tại, vì vậy lý do là con đẻ của cuộc sống. Cuộc sống là tất cả. Lý do vừa là quả ngọt của cuộc sống lại vừa chối bỏ nó. Tôi cảm thấy có gì đó không đúng ở đây.

Và ông khám phá ra rằng giải pháp không nằm trong khoa học, triết học hay cuộc sống của chủ nghĩa khoái lạc, nhưng trong những điều đó cuộc sống tồn tại ở hình thức đơn giản và tinh khiết nhất:

Suy ngẫm để nhận ra sự vô thường của cuộc đời không phải là khó, nhưng cuộc đời đã quen với những kẻ có lối suy nghĩ đơn giản nhất, và những kẻ ấy đã và vẫn đang sống. Làm sao mọi người đều sống mà không bao giờ nghi ngờ tính hợp lý của cuộc sống?

Kiến thức của tôi, được khẳng định bởi sự thông thái của các nhà hiền triết, đã cho tôi thấy rằng tất cả mọi thứ trên trái đất – hữu cơ và vô cơ – đều được sắp xếp một cách khéo léo – chỉ bản tôi là ngu ngốc. Và những kẻ ngu ngốc – chiếm đại đa số con người – không biết mọi thứ từ hữu cơ đến vô cơ được sắp xếp như thế nào, nhưng họ vẫn sống và đối với họ cuộc đời được sắp xếp một cách hoàn hảo!…

Và nó khiến tôi giật mình suy nghĩ :”Nhưng nếu như có điều gì đó tôi vẫn chưa biết? Sự thiếu hiểu biết thường có biểu hiện như vậy. Sự thiếu hiểu biết luôn nói những điều tôi đang nói. Khi nó không biết gì, nó cho đó là điều ngu xuẩn. Thật vậy, có vẻ như toàn thể nhân loại đã sống và sống như thể họ biết ý nghĩa cuộc đời của họ, bởi nếu không hiểu họ đã không thể sống, nhưng với bản thân tôi, tôi thấy toàn bộ cuộc sống này là vô nghĩa và tôi không thể sống được.

Thức tỉnh với những gì mà Stuar Firestein gọi là “vô minh ý thức” 130 năm sau đó, Tolstoy nhìn thấy điểm chết của mình ở góc nhìn mới:

Với ảo tưởng về niềm tự hào của tôi, tôi đã quả quyết rằng tôi, Solomon và Schopenhauer đã nêu ra câu hỏi một cách chính xác và hoàn hảo không gì có thể thay thế được – luôn chắc rằng mọi người không hiểu ý nghĩa cuộc sống – trên hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống tôi lại chưa một lần tự hỏi “Nhưng ý nghĩa cuộc sống của hàng tỷ người đang và đã sống trên thế giới là gì?”

Tôi đã sống lâu trong trạng thái của sự điên cuồng, một đặc trưng của những kẻ như chúng tôi rất phóng khoáng và mê khám phá. Nhưng nhờ tình cảm mới mẻ tôi dành cho những người lao động chân chính, tôi đã cố gắng hiểu họ và nhận ra họ không quá ngu ngốc như ta tưởng, và bất chấp  niềm tin tuyệt đối của tôi rằng điều tốt nhất tôi có thể làm là treo cổ mình lên, tôi vẫn cảm thấy một cách bản năng là tôi muốn sống và hiểu ý nghĩa cuộc sống của tôi, tôi phải tìm kiếm ý nghĩa này không phải từ những người đã đánh mất nó và muốn tự sát, mà từ hàng tỷ người đã sống trong quá khứ, hiện tại, những người tạo ra cuộc sống và san sẻ gánh nặng cuộc sống của chính họ và cả của chúng ta nữa. Và tôi đã quan sát vô số những người sống đơn giản, họ ít học và nghèo khổ, những người này đã và đang sống, và tôi đã thấy ở họ một điều gì đó rất khác biệt.

Tôi thấy rằng, với những trường hợp hiếm hoi, tất cả những người đã và đang sống đó không vừa vặn với các suy đoán của tôi, và tôi không thể xếp họ vào thành phần không hiểu câu hỏi, bởi chính họ đã nêu nó ra và trả lời nó với sự rõ ràng phi thường. Tôi cũng không thể coi họ là những kẻ hưởng lạc bởi cuộc sống của họ nhiều thiếu thốn, đau khổ hơn là khoái cảm. Tôi lại càng không thể coi họ như những kẻ lê bước phi ý chí trong một sự tồn tại vô nghĩa, bởi mỗi hành động trong cuộc sống của họ cũng như bản thân cái chết đã được họ giải thích. Họ coi việc tự sát là tội ác lớn nhất. Dường như tất cả nhân loại đều hiểu ý nghĩa cuộc sống nhưng tôi không những không thừa nhận mà lại còn khinh bỉ họ. Dường như suy nghĩ một cách có lý trí không những không mang lại ý nghĩa cuộc sống mà còn chối bỏ nó: trong khi ý nghĩa cuộc sống được tạo nên bởi hàng tỷ người, bởi toàn thể nhân loại, những kiến thức kia lại dựa trên một số kiến thức giả tưởng khinh rẻ.

Ông suy ngẫm sự bất hợp lý cần thiết của đức tin

Kiến thức tư duy được đưa ra bởi những người có học và khôn ngoan, tư duy lý trí chối bỏ ý nghĩa của cuộc sống, trong đại đa số người dân, toàn thể nhân loại lại tiếp nhận ý nghĩa cuộc sống thông qua những kiến thức phi lý. Và kiến thức phi lý đó chính là đức tin, là những câu chuyện về thánh thần, sự kiến tạo sự sống trong sáu ngày, thiên thần và ác quỷ.. chính là điều tôi không thể chấp nhận ngày nào tôi còn giữ lại lý trí của mình.

Tình thế của tôi thật là khủng khiếp. Tôi biết tôi không thể tìm thấy gì trên con đường tư duy lý trí ngoại trừ việc chối bỏ cuộc sống, còn đức tin thì không gì khác hơn là sự phủ nhận lý trí, điều không thể đối với tôi hơn cả việc chối bỏ cuộc sống. Khi suy nghĩ một cách có lý trí cuộc đời này có vẻ là một điều tồi tệ, mọi người biết điều ấy và có quyền kết liễu đời mình, nhưng họ đã và vẫn đang sống, và bản thân tôi cũng đang sống dù tôi đã biết từ lâu rằng cuộc đời là vô nghĩa và tồi tệ. Theo đức tin, dường như để hiểu được ý nghĩa cuộc sống, tôi phải từ bỏ lý do của mình, nhưng đó lại là thứ duy nhất đòi hỏi phải có ý nghĩa.

Mâu thuẫn phát sinh ở đây. Hoặc là cái mà tôi gọi là lý do không có lý như tôi tưởng hoặc là điều tưởng như vô lý đối với tôi lại không quá vô lý như tôi tưởng.

Và ở đó ông đã tìm ra lỗ hổng trong tất cả các lập luận trước đây của mình, gốc rễ tình trạng u sầu của ông về sự vô nghĩa của cuộc sống:

Tôi công nhận rằng những lập luận từ tư duy lý trí là hoàn toàn chuẩn xác. Từ đó tôi đi đến kết luận tất yếu: cuộc sống là vô nghĩa, nhưng tôi nhận thấy có một sai lầm. Sai lầm nằm ở chỗ lý luận của tôi không phù hợp với câu hỏi đặt ra. Câu hỏi là:” Tại sao tôi phải sống, có nghĩa là, ‎sự tồn tại hữu hạn của tôi trong thế giới vô hạn này sẽ để lại điều gì là thực, là bất biến? Và để trả lời câu hỏi đó tôi đã nghiên cứu cuộc sống.

Lời giải cho những câu hỏi về cuộc sống có thể không làm tôi thỏa mãn, vì câu hỏi của tôi, đơn giản như khi nó xuất hiện lần đầu tiên, yêu cầu một lời giải thích về sự hữu hạn trong tương quan với sự vô hạn, và ngược lại.

Câu hỏi của tôi:”Bất chấp thời gian và không gian, ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì?” Và tôi đã trả lời một câu hỏi hoàn toàn khác: “Ý nghĩa cuộc sống của tôi trong phạm vi thời gian và không gian hữu hạn là gì?” Kết quả là, sau những nỗ lực suy ngẫm triền miên, câu trả lời tôi đạt được là: “Không gì cả”

Theo lý luận của tôi, tôi luôn so sánh (và cũng không thể làm gì khác hơn) hữu hạn với hữu hạn, vô hạn với vô hạn, nhưng vì lý do đó tôi đã đi đến một kết luận tất yếu: lực là lực, vật chất là vật chất, ý chí là ý chí, vô hạn là vô hạn, không có gì là không có gì – và đó là tất cả lời giải.

Kiến thức triết học không phủ nhận điều gì, mà chỉ trả lời nó không thể giải đáp được câu hỏi này – rằng đối với kiến thức triết học lời giải vẫn chưa được xác định.

Sau khi hiểu điều này, tôi biết không thể dùng tư duy lý trí để trả lời câu hỏi của tôi, những gì rút ra từ đó ám chỉ một câu trả lời chỉ có thể có được bởi một câu hỏi khác và chỉ khi quan hệ giữa vô hạn và hữu hạn được đưa vào câu hỏi. Và tôi hiểu rằng, dù câu trả lời của đức tin có thể không hợp lý và méo mó, họ có lợi thế là đưa vào mỗi câu trả lời mối liên hệ giữa hữu hạn và vô hạn, điều kiện cần cho một câu trả lời thỏa đáng.

Vì vậy, ngoài việc suy nghĩ lý trí, gần như là kiến thức duy nhất tôi thừa nhận, tôi đã buộc phải thừa nhận là tất cả nhân loại sống đều có một cách suy nghĩ phi lý trí khác – người ta có thể sống được bằng đức tin. Vẫn như trước đây, tôi coi đức tin  là điều phi lý, nhưng tôi không thể không thừa nhận rằng mình nó đã giải đáp câu hỏi của loài người về cuộc sống, từ đó giúp họ tồn tại.

Tolstoy lưu ý rằng, đức tin có thể là bất cứ điều gì “mang đến ý nghĩa vô hạn cho sự tồn tại hữu hạn của con người,  ý nghĩa đó không bị hủy hoại bởi khổ đau, mất mát và kể cả cái chết.” nhưng ông cẩn thận không đánh đồng đức tin với một tôn giáo cụ thể nào. Như Flannery O’Connor, người đã tinh tế chỉ ra sự khác biệt giữa tôn giáo và đức tin, Tolstoy viết:

Tôi hiểu rằng đức tin không chỉ đơn thuần là “bằng chứng của những điều không nhìn thấy”,… cũng không phải là một mặc khải (chỉ xác định một trong những chỉ dẫn về đức tin, không phải là mối quan hệ của con người với Chúa (trước hết ta phải định nghĩa đức tin sau đó định nghĩa Chúa, chứ không được định nghĩa đức tin thông qua Chúa), đó không chỉ là sự đồng tình với những gì đã được nói đến (và người ta thường luôn nghĩ về đức tin như thế), mà đức tin là sự hiểu biết về ý  nghĩa cuộc sống con người. Đức tin là sức mạnh của cuộc sống. Nếu một người sống thì anh ta phải tin vào điều gì đó. Nếu anh ta không tin rằng mình phải sống cho điều gì thì anh ta sẽ không sống. Nếu anh ta không nhận ra bản chất hư ảo của sự hữu hạn, thì anh ta sẽ tin vào sự hữu hạn. Nếu anh ta hiểu bản chất hư ảo của sự hữu hạn thì anh ta sẽ tin vào sự vô hạn. Anh ta không thể sống mà không có niềm tin…

Để có thể sống, một người hoặc phải không nhìn thấy sự vô hạn hoặc phải có một lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống kết nối cái hữu hạn với vô hạn.

Tuy nhiên khi càng khám phá đức tin kỹ hơn, ông càng thấy rõ ràng sự tách biệt giữa nó với tôn giáo, đặc biệt là với những lời dạy của nhà thờ Cơ đốc giáo và việc thực hành tín ngưỡng của đám nhà giàu. Một lần nữa, ông trở lại với người nông dân như một hình mẫu của sự cứu rỗi tâm linh, nối kết cái hữu hạn với vô hạn, và một lần nữa nhìn thấy ở họ một đặc tính gần giống với triết lý biết chấp nhận trong Phật giáo:

Ngược lại với những gì tôi quan sát từ những kẻ sống quanh tôi, cả cuộc đời trôi qua đi trong sự lười biếng, khoái lạc và bất mãn, tôi thấy những người lao động nặng nhọc, họ hài lòng với cuộc sống.  Trái ngược với cách những kẻ quanh tôi chống lại số phận và phàn nàn về những mất mát và đau khổ, những người này chấp nhận bệnh tật và buồn đau mà không có bất kỳ sự lúng túng hay phản đối nào, và với một niềm tin tĩnh lặng và vững chắc rằng mọi thứ đều tốt đẹp. Trái ngược với chúng tôi, những kẻ càng khôn ngoan càng chẳng hiểu gì về ý nghĩa cuộc sống, mà chỉ thấy một sự mỉa mai tồi tệ với cái thực tế là chúng ta phải chịu sự đau khổ rồi chết đi, những người dân ấy sống và đau khổ, đối mặt với những đớn đau và cái chết bằng một sự tĩnh lặng, và đa phần là vui vẻ đón nhận..

Trái ngược hoàn toàn với sự hiểu biết của tôi, họ hiểu rõ ý nghĩa của sự sống và cái chết, họ lao động lặng lẽ, chịu đựng sự thiếu thốn và những khổ đau, sống và chết, không thấy ở đó hư không mà chỉ có điều tốt lành.

Tôi biết rằng nếu muốn hiểu cuộc sống và ý nghĩa của nó, tôi phải không được sống cuộc sống của một ký sinh trùng, mà phải sống một cuộc đời thật, và tìm kiếm ý nghĩa được gửi gắm trong cuộc sống bằng một nhân tính thật, phải đắm mình vào cuộc đời, kiểm nghiệm nó. 

Dứt bỏ những gì cần dứt bỏ vượt thoát cuộc sống thế gian

Trong kinh Phật dạy: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà cửa”. Đây là, giai đoạn thứ II trên đường tu tập của đạo Phật. Người cư sĩ muốn tiến tới giai đoạn này thì phải thấu hiểu rõ đời sống xuất gia, liệu mình có thể sống được như vậy hay không? Đời sống xuất gia cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa là một giới hành thứ nhất trong bộ “Giới Đức Thánh Tăng và Thánh Ni”. Cho nên, muốn trở thành một vị Thánh Tăng và Thánh Ni thì phải có một hình tướng của một bậc Thánh, nhờ hình tướng ấy khiến cho vua chúa và những người có quyền thế nhìn thấy đều phải cúi đầu đảnh lễ. Hiện giờ, Tăng Ni không được mọi người tôn trọng cung kính là vì sống không đúng Phạm hạnh, thường vi phạm các giới luật, sống không có oai nghi tế hạnh của một bậc Thánh.

Qua lời dạy trong đoạn kinh này: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa”. Đây là, lời dạy dứt bỏ cuộc sống thế tục để cắt các duyên bên ngoài, không trang điểm làm đẹp, phải làm cho mình xấu xí, ăn mặc thì không được chải chuốt, mặc phải bằng những vải thô xấu, hình ảnh bên ngoài phải phá và dẹp bỏ cái đẹp đẽ của trần gian khiến cho mọi người không còn để ý đến mình thì mới dễ dàng tu hành. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá”có câu chuyện, một cô thiếu nữ rất đẹp đến xin với một vị Thiền sư tu hành. Vị Thiền sư bảo: “Cô tu không được”. Cô ta ngạc nhiên hỏi lại vị Thiền sư: “Tại sao con tu không được? Xin Thiền sư chỉ dạy cho”.

Vị Thiền sư đáp: “Tại cô quá đẹp”.

Nghe xong cô trở về nhà tìm cách phá hủy sắc đẹp của mình. Sau khi vết thương trên mặt đã lành, để lại một vết thẹo khiến cho gương mặt cô giống như ác quỷ. Bấy giờ, cô trở lại gặp vị Thiền sư.

Vừa trông thấy mặt, vị Thiền sư đã nhận ra cô và chấp nhận cho cô ở tu. Câu chuyện trên đây, là câu chuyện của Thiền Đông Độ, nhưng Thiền Đông Độ vẫn còn không chấp nhận sắc đẹp huống là đạo Phật chân chánh. Phải không các bạn?

Câu kinh kế dạy: “Từ bỏ tài sản, của cải, nhà cửa, sự nghiệp”,đây là lời dạy buông xả vật chất thế gian không còn một thứ gì ngoài ba y một bát, để tâm trí không còn lo lắng, hối tiếc, sợ hư hao, sợ mất mát, lửa cháy, nước trôi, trộm, cướp, người khác tranh giành v.v..
Cũng bài kinh đó, câu cuối cùng dạy: “Sống không gia đình”nghĩa là đoạn dứt tình cảm cha mẹ, anh em, chị em ruột thịt, vợ con, bè bạn, người thân quyến thuộc v.v..

Khi hiểu rõ từng đoạn kinh này, đức Phật đã chỉ dạy rất rõ ràng, người cư sĩ quyết tâm đi theo con đường giải thoát của đạo Phật thì bắt đầu chuyển mình qua cuộc sống mới, cuộc sống Đạo. Đoạn kinh này, tuy ngắn nhưng ta thấy sự chỉ dạy của đức Phật rất rõ ràng, đây là một sự thay đổi vĩ đại của cuộc sống đời người, có thể chia làm ba trường hợp như sau:

1-   Người đi tu mà còn trang điểm làm đẹp, làm dáng là không thể nào theo đạo Phật tu hành đến nơi đến chốn được.

2-   Người đi tu mà không dứt bỏ tài sản, của cải, vật chất, vàng, bạc của báu thì không thể nào theo đạo Phật tu hành đến nơi đến chốn được.

3-   Người đi tu mà không dứt bỏ tình cảm, không cắt đứt lòng luyến ái đối với những người thân thì không thể nào theo đạo Phật tu hành đến nơi đến chốn được.

Cái khó của người đi tu theo đạo Phật đầu tiên là ở trong ba trường hợp này: nếu dứt một còn hai thì đi tu cũng vô ích, nếu dứt hai còn một thì tu cũng chẳng có kết quả gì, chỉ khi nào dứt trọn vẹn ba trường hợp này thì xuất gia tu hành mới đạt được kết quả giải thoát, còn không dứt được ba trường hợp này thì quý vị có tu hành xuất gia cũng chỉ làm một người cư sĩ trọc đầu mà thôi, chứ không thể thành tu sĩ được.

Xét qua ba trường hợp này, trước tiên chúng ta muốn tu tập cầu giải thoát thì phải bỏ trang điểm, bỏ làm dáng, làm đẹp, tập ăn mặc vải thật xấu, kế đến tập bố thí, xả bỏ của cải tài sản, buông xả cho thật sạch, đừng nghĩ rằng để dành cất chùa, cất am cho thật đẹp, độ người tu, điều này là tâm luận thế gian qua ngỏ tôn giáo, đó là bị tâm mình lừa gạt. Tu để cứu mình thoát khổ cảnh trầm luân, chưa cứu mình được mà lo cứu người đó là si mê dại dột. Đừng vội làm thầy Trời, Người mà sự tu hành của mình chỉ là số không, đừng bắt chước các nhà Đại Thừa làm Bồ Tát độ chúng sanh, coi chừng cả mình và chúng sanh đều xuống địa ngục cả đám. Đó cũng là, tâm danh lợi khéo che đậy mà thôi.

Ta phải xả bỏ hết của cải như ông Bàng Long Uẩn, đem tài sản của cải châu báu đổ xuống sông mà không tiếc rẻ chút nào cả. Khi xả bỏ được tài sản của cải châu báu vàng bạc, ta phải giải quyết tình cảm như thế nào để không còn bị trói buộc nhớ thương, đối với những người thân thương.

Đây là một giai đoạn rất khó đối với đạo Phật, nghe thì dễ nhưng thực hiện thì khó vô cùng, bởi nó thuộc về ái kiết sử.

Muốn vượt thoát cuộc sống thế gian đâu phải ai cũng làm được, phải là người gan dạ, đầy đủ nghị lực, cương quyết dũng cảm thì mới vượt thoát ra được.

Một người có gia đình như các cư sĩ đang ngồi đây, nghe chúng tôi thuyết giảng, thử hỏi quý vị có bỏ gia đình đi tu ngay liền được hay không?

Quý vị muốn đi tu nhưng vợ con có đồng ý hay không? Nếu quý vị đoạn dứt bỏ đi, thì quý vị đã làm trái với lời Phật dạy “Không làm khổ mình, khổ người”. Do ý này, quý vị sẽ hỏi chúng tôi: “Tại sao đức Phật đi tu bỏ vợ, bỏ con, bỏ cả gia đình cha mẹ trong lúc mọi người không chấp nhận, không muốn rời xa, vì lòng thương yêu? Đức Phật còn như vậy, ở đây Thầy lại bảo không làm khổ mình, khổ người, như vậy đạo Phật có mâu thuẫn hay không?”.

Quý vị quên rằng: khi đức Phật đi tu là đạo Phật chưa có. Do đạo Phật chưa có, nên chưa có ai dạy đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ mình, khổ người, còn bây giờ chúng ta đã có được đạo Phật, và đức Phật đã dạy: “Đạo đức không làm khổ mình, khổ người”. Vì thế, bà Dhamar phải chờ chồng chết rồi mới được đi tu, lúc bây giờ hơn 70 tuổi. Bà là một Thánh Ni trong thời đức Phật.

Hai chữ “bổn phận”đã trói buộc chúng ta chắc hơn cả dây xích sắt. Bổn phận làm người đối với cha mẹ, đối với vợ con chúng ta có bỏ được không? Điều đó, ít có ai làm được, đâu phải dễ. Phải không các bạn?

Một người làm được điều này, ví như một bầy cá đang mắc trong lưới chỉ có một con vượt thoát ra khỏi lưới, đó là một điều hy hữu ít có. Vì thế, ông Trang Tử vỗ tay ca ngợi: “Con cá khôn thật, tuyệt vời”.

Chúng ta là những người bị lưới gia đình, lưới vật chất, lưới danh, lưới lợi bao vây khắp cùng không thể vượt thoát ra được. Thầy Minh Tông là một cư sĩ có vợ, con còn nhỏ, mẹ già đang bịnh tật, nhưng đứng trước sự chết sống, bịnh khổ và tái sanh luân hồi của kiếp người. Thầy không chần chờ được nữa, mạnh dạn quyết tâm vượt ra khỏi mạng lưới, để thực hiện con đường giải thoát cứu mình và cứu mọi người, trong đó có gia đình mình cha mẹ và vợ con, nhưng năm năm trôi qua xác định Thầy không cắt được ái kiết sử, mỗi lần vợ con đến thăm là Thầy xin tiếp duyên. Ôi, có quyết tâm đi tu mà ái kiết sử không đoạn trừ, thì cũng phí uổng một đời mà còn mang tiếng là bất hiếu thiếu tình nghĩa đối với vợ con, không làm hết bổn phận làm chồng, làm cha, thật đáng trách phải không các bạn.

Một người làm được như cư sĩ Minh Tông không phải ai cũng làm được như vậy hết, nhưng vì làm được bằng hình thức bên ngoài mà nội tâm không đoạn trừ ái kiết sử. Vì thế, mà phải đổ vỡ con đường tu. Hầu hết quý vị đang có mặt ở đây, đang nghe chúng tôi thuyết giảng, chẳng qua chỉ để nghe cho hiểu biết, chớ không đủ can đảm vượt qua những mạng lưới của gia đình, cạo bỏ râu tóc xuất gia, thay đổi cuộc sống hoàn toàn, cắt đứt dây mơ rễ má, tình cảm gia đình để thực hiện đời sống cao quý của đạo Phật “Không làm khổ mình, khổ người” và còn phải đi sâu hơn nữa con đường giải thoát của đạo Phật, đó là thực hiện Thiền định, tịnh chỉ các hành trong thân, làm chủ sự sống chết, quét sạch luật nhân quả luân hồi. Những việc làm này, không thể người cư sĩ tại gia còn sống trong gia đình mà làm được. Con đường tu tập của đạo Phật không đơn giản như mọi người nghĩ mà phải thực hiện từng bước ban đầu, có bậc minh sư hướng dẫn tu tập đúng cách, đúng pháp.

Quý Thầy và các Phật tử cứ nghĩ xem các hành trong thân của chúng ta đang tự hoạt động như: tim đập, phổi hô hấp, bao tử nhồi bóp thực phẩm, ruột non, ruột già và da đang bài tiết, óc, thần kinh đang hoạt động, hơi thở ra vô liên tục, thế mà người ta tu hành tập điều khiển làm cho các hành trong thân đều ngưng hoạt động, thì quý Thầy và các Phật tử tự suy nghĩ đây không phải là một việc dễ làm, dễ tu tập.

Nếu tâm quý vị còn đắm nhiễm mùi tục lụy thế gian: còn thương, còn ghét, còn giận hờn, còn ham muốn vật này vật kia, còn ham thích nói chuyện đời, chuyện đạo, tranh luận hơn thua, chưa từ bỏ viễn ly, chắc chắn quý Thầy và các Phật tử không thể làm được những chuyện vĩ đại này.

Giáo lý của đức Phật, đã vạch ra cho chúng ta thấy con đường tu tập rất rõ ràng, bắt đầu phải diệt trừ các ác pháp, lìa tâm ham muốn, lấy nhân quả làm nòng cốt, tu tập thiện pháp khiến cho tâm xa lìa và đoạn dứt thất kiết sử, ngũ triền cái, lần lượt tu tập buông xả, lập hạnh bố thí, cúng dường và còn trau dồi những đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng trong mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh v.v.. Nếu bước đầu tu tập đúng như vậy, quý Thầy và các Phật tử sẽ ly dục ly ác pháp một cách dễ dàng, mà đã ly dục ly ác pháp được thì tâm của quý vị sống trong gia đình được yên vui hạnh phúc, chẳng ai làm gì động tâm được cả, luôn luôn lúc nào tâm của quý vị cũng thanh thản, an lạc và vô sự.

Khi thực hiện được giai đoạn ly dục ly ác pháp, quý vị sẽ có được một tâm hồn giải thoát an lạc và một cuộc sống hạnh phúc an vui, nếu quý vị mãn nguyện nơi đây, thì con đường tu của đạo Phật, quý vị mới đi được một phần ba đường.

Quý vị muốn đi nốt quãng đường còn lại của đạo Phật trong chiếc áo người cư sĩ chắc chắn quý vị khó mà thực hiện được.

Giai đoạn chuyển tiếp từ chiếc áo người cư sĩ đến chiếc áo của người tu sĩ, quý vị phải xả bỏ hết tài sản của cải như ông Bàng Long Uẩn, đem của cải, tài sản, vàng bạc, châu báu đổ hết xuống sông. Khi xả bỏ được của cải, vàng bạc châu báu chúng ta mới giải quyết tình cảm ái kiết sử như thế nào, để không còn bị trói buộc thương nhớ, khi sống độc cư một mình.

Đây là một giai đoạn rất khó, nếu cha, mẹ, anh em, chị em, vợ, con đều thông suốt Phật Pháp thì dễ dàng dứt áo ra đi. Bằng ngược lại, thì khó khăn vô vàn. Đó là phần hình thức, đồng ý hay không đồng ý, còn về tình cảm của chúng ta đối với những người này, trong tâm có dứt được hay không?

Khi vào chùa ngồi tu mà tâm tư luôn ở gia đình, thì tâm niệm đó không thể tu giải thoát được.

Muốn tìm con đường tu hành giải thoát mà không mạnh dạn dứt bỏ, không đủ nghị lực xa lìa những người thân thương, thì dù tu ngàn kiếp cũng chẳng tới đâu, trường hợp như một số cư sĩ về đây tu hành. Họ cứ nghĩ rằng, ngồi Thiền ức chế vọng tưởng khi nào hết vọng tưởng là tâm không còn thương nhớ và tham sân si cũng không còn nữa, đó là họ đã hiểu theo lối tu tập của của một số hệ phái phát triển. Cho nên, họ tu ngàn kiếp muôn kiếp, cũng không bao giờ đoạn dứt thương nhớ và tham, sân, si v.v..

Quyết tìm đường giải thoát ra khỏi kiếp sống trần lao gian khổ, mà không dứt bỏ tình cảm thì làm sao thoát ra khỏi trần lao được. Nếu quý vị, giải quyết tâm mình không ổn thì quý vị nên giữ chiếc áo cư sĩ mà tu thiện pháp, đừng có mơ tưởng đến Thiền định, Thiền định chỉ dành riêng cho những người biết buông xả, buông xả sạch.

Đường lối tu tập của đạo Phật và cách thức rèn luyện thân tâm rất rõ ràng, tuần tự, giai đoạn I trước tiên quý vị cần phải thông hiểu đường lối, phương pháp, cách thức rèn luyện, trau dồi như thế nào? Để diệt trừ thói hư tật xấu, không làm các ác pháp luôn tăng trưởng thiện pháp, lập hạnh bố thí cúng dường, tạo phước báo lâu dài, xả bỏ lòng xan tham, ích kỷ để tâm được rộng lớn, lập đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng để tâm hồn lúc nào cũng hân hoan thanh thản, không biết hờn giận phiền não với ai, không biết tham muốn tài sản của ai, vui sống với gia đình làm gương tốt cho mọi người: “không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh”.

Vai trò người cư sĩ đệ tử của đức Phật chỉ tu như vậy, đừng nên tu hơn nữa, tại sao vậy? Vì có tu cao hơn cũng chẳng đi tới đâu, nếu không đoạn dứt ái kiết sử.

Đạo Phật có lớp tu thấp, có lớp tu cao, được chia ra làm tám lớp gọi là Bát Chánh Đạo. Người cư sĩ tu theo lớp của người cư sĩ, còn người tu sĩ khi xuất gia trở thành tu sĩ thì phải trải qua tu cho xong lớp đạo đức của người cư sĩ, nếu không tu tập đạo đức như vậy thì sẽ mất căn bản. Bằng chứng, hiện giờ các vị Tỳ kheo Tăng cũng như tỳ kheo Ni thường phạm giới cấm tức là thiếu đạo đức làm Người, làm Thánh, nên con đường tu hành chẳng ra gì, đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, mà còn trở thành một người hành nghề lừa đảo, nghề mê tín.

Để chuẩn bị lên lớp tu sĩ thì quý vị phải sắp xếp buông xả vật chất cho thật sạch, tình cảm phải dứt khoát, không còn để dây dưa mà phải đoạn cho dứt, xem như mình đã chết rồi. Có như vậy, mới vượt thoát cuộc sống thế gian, mới trở thành người đệ tử xuất gia chân chánh của đạo Phật.

Nơi đây, là giai đoạn rất quan trọng cho cuộc đời tu hành của mỗi người, có dứt khoát được tình cảm, có xa lìa được tài sản thì mới nhập được chánh định, bằng không chỉ là tu tập có hình thức, chẳng bao giờ nếm được mùi vị của giải thoát.

Từ cuộc sống Đời bước sang cuộc sống Đạo toàn bộ đều thay đổi khác hẳn, vì thế người muốn tu giải thoát mà không chuẩn bị sẵn sàng sẽ bị một cơn sốc nặng, từ đó về sau cuộc sống “Đời chẳng ra đời, Đạo chẳng ra đạo” sự tu hành cũng chẳng đi tới đâu, phí uổng một đời người chẳng ích lợi gì cho mình, cho người.

Người nào vượt qua đoạn đường này, ví như cá vượt vũ môn. Xưa, Trang Tử cùng một người bạn đứng xem người chài lưới cá có một con cá từ trong lưới đang kéo lên vọt thoát ra ngoài. Trang Tử vỗ tay ca ngợi: “Hay! Một con cá khôn thật!”.

Người bạn hỏi: “Sao anh lại biết nó khôn?”

Đáp: “Tất cả, những con cá khác đồng chung số phận sa lưới, mà không thấy mình sa lưới, không thấy sự nguy hiểm tai họa, không thấy sự đau khổ mất mạng, không thấy trên dao dưới nước sôi lửa bỏng, không thấy thân mạng như chỉ mành treo chuông, chỉ trong chốc lát ô hô! Thì còn gì là sự sống, cả một bầy cá mà chỉ có một con vượt ra khỏi, không phải là khôn sao?”.

Ai là người khôn, thấy được thân này là vô thường, là khổ, là vô ngã, thấy thân này là bất tịnh uế nhiễm, hôi thúi, bệnh tật, khổ đau, thấy những người thân quyến thuộc là nhân quả, là những người vay nợ với nhau, không có chi là thường còn, vĩnh viễn, các pháp trong thế gian này không phải của mình nữa, là do duyên hợp, là đau khổ, là trói buộc, thương nhớ chỉ là một sự tạm bợ trong khi thân này còn sống, đến khi nó hoại diệt rồi thì sự thương nhớ kia cũng không còn, nó sẽ tan ra thành mây khói. Phải không các bạn?

Người đi tu theo đạo Phật mà không thấy ba trường hợp quyết định số phận tu hành của mình thì dù có tu đến đâu cũng chẳng ra gì, chỉ là hình thức tu sĩ mà thôi.

Năm năm trời dài đăng đẳng, trong những ngày công phu ức chế tâm hết sức để vào Thiền định 5, 6 tiếng đồng hồ không một chút vọng tưởng xen vào, hơi thở đã đình chỉ từ 1 đến 5 phút, nhưng đến giờ phút cuối cùng cô Diệu Quang đã trắc nghiệm Minh Tông, Minh Tông như từ trên trời rớt xuống. Tâm sân bừng bốc ngút ngàn. Tất cả mọi người đều sáng mắt ra kinh sách phát triển chỉ là một pháp môn lừa đảo người từ xưa đến giờ. Xưa, các Tổ đã lầm lạc và bây giờ chúng ta cũng lầm lạc, rồi đây con cháu của chúng ta cũng lầm lạc mãi mãi.

Hơn 25 thế kỷ trôi qua, từ thế hệ này đến thế hệ khác đã dõi bước theo chân đức Phật nhưng nào ngờ đã theo chân của ngọai đạo huyền thọai mê tín. Biết bao nhiêu công sức của mọi người giờ đây đã trở thành cát bụi, mây khói.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Nhàm chán thế gian

Người tu sĩ là người bỏ đời đi tìm sự giải thoát trong đạo Phật. Nhưng mấy ai bỏ được đời, dù đang mặc chiếc áo tu sĩ, nhưng tâm đời còn đầy dẫy dục vọng, cho nên chắc chắc không thể nào tìm thấy sự giải thoát chân chính của đạo Phật. Có vào đạo thì cũng tìm danh lợi trong đạo mà thôi.

Chỉ những ai nhàm chán thế gian, thấy rõ những tác hại, nguy hiểm, hiểu rõ và thấm nhuần sự vô thường thay đổi của vạn vật trên thế gian thì mới nhàm chán và buông bỏ tất cả, quyết tâm tìm đường giải thoát.

Như thế nào là người nhàm chán thế gian?

Sự phi lý và những cùng cực của cuộc đời

Socrates đã nói: "Một cuộc đời không suy xét thì không đáng sống"

Cuộc đời của mỗi người chúng ta có ý nghĩa gì đó hay không? Hay đó chỉ là sự tồn tại do bắt buộc?

Shakespeare viết: "Cuộc đời chẳng qua là một bóng mát bên đường, một diễn viên tồi bước khập khễnh đầy sầu thảm suốt vai diễn trên sân khấu, rồi sau đó không còn được nghe nói đến gì nữa, vở diễn là một câu chuyện được kể lại bởi thằng ngốc đầy ồn ào và phẫn nộ nhưng chẳng mang lại một ý nghĩa nào cả"

Mạng sống mong manh - cái chết là điều chắc chắn

Đó là câu châm ngôn nổi tiếng trong Đạo Phật. Biết rõ cái chết là điều chắc chắn và là một hiện tượng tự nhiên mà mọi người phải đương đầu, chúng ta không nên sợ chết. Theo bản năng, tất cả chúng ta đều sợ chết vì chúng ta không biết làm sao để tránh khỏi nó. Chúng ta thích bám víu vào đời sống, vào thân xác của chúng ta, vì vậy trở nên đầy tham dục và luyến ái.

Một đứa nhỏ ra đời đem niềm vui và hạnh phúc cho những người thân yêu. Dù người mẹ đau đớn cùng cực lúc sanh nhưng vẫn vui mừng và thích thú ngắm nhìn đứa con mới sanh. Người mẹ cảm thấy được đền bù xứng đáng sau nhiều khó khăn đau đớn phải chịu đựng. Tuy nhiên đứa trẻ lọt lòng ra đã khóc hình như nó muốn nói ra nó cũng phải chịu đau khổ của kiếp người. Đứa trẻ trở thành một thiếu niên rồi trưởng thành, tạo các loại hành vi tốt và xấu. Rồi nó trở nên già nua, và cuối cùng từ giã cõi đời này, bỏ lại bạn bè và thân quyến đau buồn: Đó là bản chất cuộc sống của một con người.

Con người cố gắng tránh khỏi nanh vuốt của tử thần nhưng không một ai có thể thoát khỏi. Đến lúc gần chết, đầu óc liên tưởng đến của cải tích lũy, và lo sợ quá đáng về những đứa con thân yêu của mình. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, con người lo lắng quá sức về thân xác quý báu của mình; mặc dù với sự chăm sóc chu đáo và cẩn trọng nhưng nay đã suy nhược, kiệt quệ và tan rã. Thật đau đớn khi phải xa lìa thân xác. Không thể chịu đựng được thế nhưng không tránh nổi. Đó là tâm trạng của mọi người khi từ giã cõi đời này với than van rền rĩ. Sự đau đớn về cái chết thật là khủng khiếp, đó là thái độ của kẻ do ngu muội mà ra.

Hòa thượng K. S. Dhammananda
Thích Tâm Quang dịch Việt

Nghĩ đến tuổi già!

“Này các người còn trẻ, các người có bao giờ nghĩ đến lúc về già để biết, hiểu và thương cha mẹ, cũng như biết để kính trọng những người già cả!”
Suy nghĩ trước ngưỡng cửa 80

Năm 1982, sau khi đi tù về, tôi chỉ mới 45 tuổi, nhưng bọn trẻ mới lớn lên ở Saigon, cái thời mà Saigon đã đổi tên, vẫn xem tôi như những ông già, có lẽ vì dung nhan tiều tuỵ, ốm o. Ði xe đạp ra đường, nếu lỡ cọ quẹt, chúng đã kêu toáng lên: “Cha già này!” hay hỗn hào hơn là: “Cha già mắc dịch!” Với chúng, chỉ có trẻ và già, không có thời gian chuyển tiếp như ta thường gọi là tuổi trung niên, và già là một cái tội.

Ở ngoài tuổi 40, chết cũng chưa được dùng hai chữ “hưởng thọ,” cho nên nói về vai vế, nhiều lắm là mình chỉ tới vai chú, lúc vui thì còn có thể nói cái câu “đừng gọi Anh bằng Chú,” nhưng khi đến tuổi bây giờ, không lẽ nói câu “đừng gọi Chú bằng Bác,” hay “đừng gọi Bác bằng Cụ” hay sao?

Ngạn ngữ Tây phương có câu “tuổi trẻ để học hỏi, tuổi già để thấu hiểu!” Nếu thấu hiểu được lẽ đời, được thời gian, được lẽ vô thường của tạo hoá thì không buồn nữa.

Ông Khổng Tử có nói “ngũ thập tri thiên mệnh!”

Chuyện xưa kể, một ngày kia ông Khổng Khâu ghé chơi nhà bạn.

Hết tuần trà, ông Khâu mang đàn ra gảy. Cái đàn nho nhỏ này luôn luôn nằm trong cái bị cói của ngài, để được có mặt khắp nơi cùng chốn. Bạn hỏi:

– Cái khúc cụ Khâu đang chơi là khúc gì vậy?

– À, ta dạo chơi cái khúc “tri thiên mệnh.”

– Cụ Khâu cho hỏi, sao tuổi phải năm mươi thì mới tri thiên mệnh?

– À, vì từ cái tuổi đó, thì khỏi cần phải xem tử vi của mình nữa!

Bây giờ, quý vị trên 60 giở trang tử vi ra mà coi. Người ta không còn đếm xỉa tới các “Cụ” nữa, tuổi các Cụ may rủi, chết sống cũng chẳng ai quan tâm. Nếu có ông thầy tử vi nào đó còn nghĩ các Cụ là độc giả trung thành của tờ báo, sẽ thêm cho các Cụ mấy dòng: “cuối tuần gặp bạn” hay “đi xa cẩn thận về sức khoẻ” thì bao giờ cũng đúng cả. Ðến tuổi 80 tử vi, số mệnh nên để ngoài tai.

Ông Bạch Cư Dị, trong bài “Văn Khốc Giả” (Nghe người khóc) đã lấy làm vui khi thấy mình đã được ngoài tuổi 40, vì xa gần, có người thì khóc chồng chết mới 25 tuổi, có người khóc con chết chỉ mới 17, 18, mà thơ rằng: “Ta nay đã tuổi bốn mươi- Chuyện đời nghĩ lại cũng nguôi tấm lòng! (Dư kim quá tứ thập, Niệm bỉ, liêu tự duyệt!)

Bạch Cư Dị lúc ấy mới ngoài 40 đã lấy làm mừng, nay “ta” 80 tuổi, còn ưng nỗi gì?

Ông Ðỗ Phủ thì lại có thơ rằng: “Thất thập cổ lai hy!”(Tuổi 70 xưa nay hiếm có!) Thì ra mình cũng là một người hiếm hoi trên đời này, không những lúc mới tới tuổi 70 mà chuyện này đã xảy ra từ 10 năm về trước! 70 đã gọi là hiếm, 80 phải hiếm hơn nữa.

Thế gian thường cho rằng “một ông già bằng ba đứa trẻ!” Mới nghe qua như điều nghịch lý! Nhưng cứ nhìn cuộc đời mà suy gẫm, đứa trẻ lên ba phải mặc tã thì ông bà già cũng vậy. Trẻ người trong xe nôi, chọi chân mà tập đi, thì cao niên cũng gậy chống xe lăn có khác gì nhau. Trẻ ăn thức ăn nghiền lỏng có cha mẹ đút mớm, phải mang khăn che cổ cho khỏi vương vãi, thì cứ vào nhà dưỡng lão mà xem, các Cụ Ông, Cụ Bà của tôi cũng lâm vào hoàn cảnh ấy. Có điều khác, là trẻ con chỉ biết khóc, khi đói, khi lạnh, khi đau… còn cảnh già, còn biết buồn, biết tủi thân, biết hồi tưởng và biết khóc lặng lẽ mà không có nước mắt. Phần lớn đã không còn biết, còn nhớ gì nữa, nên bị ai ngược đãi, tắm lạnh hay cơ thể thiếu nước, cũng không còn có khả năng phản kháng hay kêu nài.

Thà chúng ta chấp nhận tuổi trẻ gian lao, nghèo khó, đau khổ, nhưng lúc về già, chịu những cảnh ấy mới đáng xót xa.

Chuyện đời, có người bớt công việc, chịu thu nhập thấp để ở nhà trông con, sợ con hư hỏng, chứ chưa nghe ai nói nghỉ việc để trông coi cha mẹ già, sợ cha mẹ già, đói lạnh. “Một ông già bằng ba đứa trẻ!” Có phải vậy mà tuổi già đôi lúc cũng khó khăn, cáu kỉnh, khó chiều như một đứa trẻ khó tính. Có đứa con nào lấy được tấm lòng người mẹ ngày xưa mà hiểu biết con, như bây giờ những đứa con hiểu được cha mẹ?

Cho nên ở với cha mẹ lúc về già mới khó, chu cấp cho mẹ già là điều dễ. Bởi vậy, nhiều bậc cha mẹ già, bị đùn đẩy từ đứa con này sang đứa khác, và chặng cuối cùng là  cái nhà dưỡng lão, cũng có chén cơm, viên thuốc, nhưng không có tình thương của quyến thuộc.

Tâm lý của người đời ai cũng muốn sống lâu, nhưng lại sợ già, sợ bệnh tật.

Người ta lấy câu “nước mắt chảy xuôi” để an ủi, để hiểu biết cuộc đời, thấu hiểu thì thông cảm, thương yêu và tha thứ để cho lòng thấy thanh thản.

Chúng ta cảm thương, xót xa cho người chết trẻ, nhưng cũng xót xa cho tuổi quá già mà chịu cảnh cô đơn, phiền muộn. Nhưng xin ai đừng mong chết sớm!

Người tiều phu già, trong truyện ngụ ngôn La Fontaine, mỏi mệt, đau khổ, thở than muốn kêu Thần Chết đem lưỡi hái gọi mình đi cho mau:

“Hỡi thần Chết
thương tình chăng tá,
Ðến lôi đi cho đã một đời.”

Nhưng khi Thần Chết hiện ra, quá sợ chết, lão tiều phu, lấy cớ gọi Thần Chết để đỡ giùm bó củi nặng lên vai! Mới hay bụng thế gian, khổ mà sống còn hơn chết!

Có người cho rằng thọ là nhục, nhưng cũng có người cho thọ là phúc!

Di chứng của cái Nghèo!

Có lần, tôi cùng một người bạn ăn tối trong một nhà hàng. Sau khi tôi thanh toán và nhận tiền thối, bạn nói: "Người phục vụ này nhìn tội quá! Thôi boa cho người ta đi!". Tôi điềm nhiên: "Ngày xưa tao đi học về, chỉ mong nhà có cơm nguội với nước mắm mà ăn. Tao quý từng đồng mình kiếm được. Chưa bao giờ tao boa cho ai cả". Bạn tôi cười buồn: "Bởi thế! Nghèo chẳng có gì là đáng sợ. Sợ chăng là di chứng của cái nghèo!"

Không hiểu sao kể từ đó, câu nói của người bạn luôn ám ảnh tôi, khiến tôi luôn tự vấn về cuộc sống của mình. Trong bài viết này, nếu nói rằng đó chính là những mối căn nguyên cho các luận điểm tôi sắp nêu thì sẽ rất khập khiễng. Nhưng, với một tâm thế nào đó, sự sợ hãi trước "di chứng của cái nghèo" chính là một sợi dây mơ hồ dẫn dắt tôi viết ra những điều này.

Theo tôi, có 4 trạng thái tâm lý vô cùng phổ biến trong đa số dân ta khiến chính chúng ta tự  biến mình trở nên nhỏ bé, hèn mọn:

1. Sự tự ti

Nếu hỏi một người nào đó bất kỳ vài câu hỏi, đại loại: "Anh có tin rằng 50 năm nữa, kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua Nhật Bản, Mỹ,... hay không?". Liệu trong chính chúng ta, có ai dám trả lời một cách đàng hoàng: "Có. Tôi tin. Vì..." hay không?

Trở lại với phép so sánh thông thường. Nhật Bản có lúc rơi vào bi kịch, nhưng ít ra cũng có lúc sức mạnh quân sự của họ gây sóng gió ở mức độ toàn cầu. Trung Quốc có lúc rơi vào bi kịch, nhưng ít ra đất nước này là một trong 4 cái nôi của văn minh nhân loại, từng là nền kinh tế lớn nhất thế giới cho đến cuối thế kỷ 18. Hay như xứ sở Mông Cổ nhỏ bé kia, cũng đã từng có một Thành Cát Tư Hãn gây sóng gió từ Âu sang Á... Nói nôm na, có lúc nào đó, họ đứng dưới thấp, nhưng trong lịch sử của mình, họ cũng đã từng "nhất" về mặt nào đó. Còn chúng ta?

Phải nhìn nhận rõ, chúng ta chưa bao giờ "nhất" về một cái gì cả! Sự oai hùng trong lịch sử chống ngoại xâm là sự oai hùng mang tính phản kháng. Chúng ta phản kháng trước kẻ mạnh. Khiến kẻ mạnh bất lực trước sự phản kháng của chúng ta. Chứ chúng ta chưa bao giờ là "kẻ mạnh" cả.

Và nếu như tôi đi học, thường tôi xếp thứ 5, 6 hay 15, 16 trong lớp. Tôi đặt ra mục tiêu tôi phải nhất lớp, số 1, điều đó còn khả dĩ. Chứ nếu tôi luôn luôn đứng ở hàng cuối hay gần cuối lớp thì cái mục tiêu nhất lớp của tôi xem ra đến lúc nào đó chắc chắn sẽ tự triệt tiêu trong chính tâm tưởng của tôi.

2. Tính thủ phận

Với tâm thế của kẻ luôn đứng bét đó, chỉ cần mỗi ngày vẫn được đi làm, vẫn có cái ăn cái mặc, đêm về ngủ kỹ, sẽ là tốt quá rồi! Những câu nói như: "Đấu tranh rồi tránh đâu?", "Dây vào nhọc xác", "Không phải việc của mình",... đến nay vẫn còn là những "quy tắc xử thế" thông dụng.

Khi nghèo, người ta chỉ cần đủ ăn, đủ mặc, có chút ít phòng thân, thế đã là hạnh phúc. Làm sao bắt một người hôm nay không biết ngày mai có tiền để đóng tiền nhà, tiền điện hay không đêm về phải suy nghĩ về chấn hưng dân tộc, về tự lực tự cường? Họ chỉ nghĩ đến mỗi chuyện làm ăn lương thiện để có tiền đã là điều đáng mừng rồi.

Thế là chúng ta cứ loay hoay trong mớ bòng bong sinh tồn. Mơ gì đến "sánh vai cùng cường quốc năm châu"? Đọc những chỉ số cho rằng cả trăm năm nữa, Việt Nam mới đuổi kịp nước này nước nọ trong khu vực, có bao nhiêu người trong chúng ta thấy mắt mình nghèn nghẹn, nỗi tủi nhục dâng lên, thấy chính mỗi con người Việt Nam chúng ta phải làm gì đó? Hay chiều hôm ấy, các quán nhậu bia vẫn chảy tràn, các đấng tu mi nam tử vẫn "dzô dzô" khí thế? Sự thủ phận đến mức vô cảm. Nói thẳng đến tầm quốc gia, mỗi năm phải đau đáu trả cho được món nợ mấy tỉ USD thì có muốn làm một cái gì cũng... khó. Và thật đáng sợ, khi "giấc mơ con đè nát cuộc đời con"!

3. Hám lợi

Khi tôi đói, có người đưa tôi mẩu bánh mì và quyển sách. Bảo tôi hãy chọn. Hoặc ăn mẩu bánh mì cho qua cơn đói nhất thời, hoặc đọc quyển sách, trong đó nói về bí quyết làm giàu nhanh chóng. Tôi sẽ chọn cái gì? Không loại trừ việc chọn quyển sách nhưng 90% khả năng tôi ăn bánh mì trước đã.

Khi nghèo, ta thường quan tâm đến cái lợi nhỏ trước mắt. Vì nó như cái phao nhìn thấy rõ, thấy ngay. Những cái lợi thuộc loại giải pháp lâu dài cần có thời gian. Mà chúng ta thì lại đang thèm, đang khát ngay tức thì! Chỉ cần nhìn vào một hiện tượng thôi. Học sinh bây giờ đổ xô thi vào những ngành "nghe có vẻ" sẽ kiếm được nhiều tiền: kinh tế, ngoại thương, ngân hàng, luật,... Anh chị nào học dốt thì vào sư phạm, đến nỗi có thời đã có câu "chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm". Tôi không dám vơ đũa cả nắm, nhưng tôi tin rằng hậu quả nhãn tiền là nền giáo dục bê bối chưa tìm được lối ra của chúng ta hiện nay có sự góp phần không nhỏ của một thế hệ "chuột chạy cùng sào" đó. Cần bao nhiêu năm nữa để có một thế hệ người thầy mới đủ trưởng thành và thay thế? Sự hưng vinh của đất nước nào cũng phải bắt nguồn từ giáo dục. Thật sự là một câu hỏi khó, bắt nguồn từ sự hám cái lợi nhỏ của từng người dân chúng ta.

4. Không có chính kiến

Khi ta là kẻ mặc cảm tự ti, an phận, chăm chắm vào cái lợi cỏn con trước mắt thì liệu nói đến việc dám có chính kiến, hay nói rộng hơn là dám khác biệt, dám khẳng định cái tôi, dám sáng tạo có phải là điều quá xa xỉ?

Trong triết học hiện sinh, Nietzsche chia luân lý cổ truyền làm hai loại: luân lý chủ nhân ông và luân lý nô lệ. Luân lý chủ nhân ông là luân lý của kẻ thống trị. Quý tộc thống trị phải có sự ngang tàng, kiêu hãnh, tự tin, tự đại, phải là kẻ hào hùng. Luân lý nô lệ thì ngược lại, người bị thống trị tìm niềm an ủi trong đức từ bi, tính nhẫn nại, sự khiêm nhường...

Tôi không đánh giá gì về tư tưởng hiện sinh, cũng không cho quan điểm của Nietzsche là chân lý. Nhưng khi nhìn lại một chút về vấn đề này thì chúng ta hãy tự hỏi chúng ta đã được giáo dục và lớn lên bằng nền luân lý gì? Thẳm sâu trong tiềm thức, phải chăng chúng ta luôn muốn khiêm cung, nhường nhịn, dĩ hòa vi quý? Ta chưa từng biết nghĩ như “chủ nhân ông”, mà chỉ mãi chui rúc trong mặc cảm của kẻ nô lệ!

Bốn di chứng mà tôi đã phân tích ở trên, từ "cái nghèo" mà ra.

Chỉ khi nào mỗi con người Việt Nam chúng ta biết thoát mình ra khỏi những di chứng đó thì chúng ta mới không còn chịu mối nhục yếu hèn, nhược tiểu.