.
Bài đăng mới
print this page

Sách của Thầy Thích Thông Lạc

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Sách hay chia sẻ, Phật pháp cho người hữu duyên. Bạn có thể download sách của Thầy Thích Thông Lạc theo các đường link dưới đây:



Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Gợi ý: Bạn nên tải và đọc trước tác phẩm: 'Đường về xứ Phật'; 'Những lời gốc Phật dạy'; và 'Đạo đức làm Người'. Nếu bạn quan tâm đến Thiền nên tham khảo thêm: 'Trở về đạo Phật'

Bốn sự thật của loài Người

Khi nghiên cứu về đạo Phật, các nhà học giả phần đông ai cũng ra công tìm hiểu TỨ DIỆU ĐẾ. TỨ DIỆU ĐẾ là pháp môn đầu tiên của đức Phật, từ khi tu chứng đạo và đem pháp môn này ra dạy cho năm anh em Kiều Trần Như. Đó là chuyển pháp luân lần đầu tiên trong lịch sử của Phật giáo. Pháp môn này không có một tôn giáo nào trên hành tinh này có được. Ngài dám khẳng định về con người có bốn sự thật cần phải hiểu rõ. Nếu không hiểu rõ bốn sự thật này thì con người không bao giờ thoát ra mọi sự đau khổ của cuộc đời.

Có bảy pháp hằng ngày cần tu tập

LỜI PHẬT DẠY

1- Quán thân bất tịnh.

2- Quán thức ăn bất tịnh.

3- Không say đắm thế gian.

4- Thường nghĩ đến sự chết.

5- Luôn nghĩ đến vô thường.

6- Nghĩ đến đời sống là khổ và vô thường.

7- Luôn nghĩ đến khổ và vô ngã.

Nhìn đời bằng nhân quả

“Phải thấy nhân quả, đừng thấy đúng sai, phải trái, xấu tốt, trắng đen, đó là sự thật của cuộc đời này, nếu thấy đúng sai, phải trái, tốt xấu, trắng đen, là thấy sai sự thật”. 
Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Ái kiết sử, Thất kiết sử, Ngũ cái

Ái kiết sử

Hỏi: Kính thưa Thầy! Người muốn đi tu mà duyên nghiệp cứ buộc ràng, không thể bỏ đi được, là do duyên gì, nhân gì, xin Thầy chỉ dạy cho con hiểu?

Đáp: Người muốn đi tu mà duyên nghiệp cứ buộc ràng, không thể bỏ đi được, có ba nguyên nhân chính:

1- Nợ nhân quả quá nặng.
2- Thất kiết sử quá dầy.
3- Ngũ triền cái ngăn che.

Đó là ba nguyên nhân khiến cho người muốn đi tu theo đạo Phật rất khó vượt qua, đó cũng là ba mạng lưới bao vây kiếp con người, mãi mãi trôi lăn trong biển sanh tử, luân hồi và nhiều khổ đau trong nhiều đời nhiều kiếp.

Chỉ có người trí hiểu biết và còn phải có đủ nghị lực, can đảm, gan dạ, mới vượt ra khỏi, mới biết được những sợi dây xích kiết sử tuy vô hình nhưng nó chắc hơn những sợi dây lòi tói.

Con có duyên với Phật pháp, nhưng tánh con yếu đuối không thể vượt qua bức tường nhân quả, vì thế con nên tu trong chiếc áo của người cư sĩ:

1- Tu tập xả ly năm triền cái bằng đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

2- Luôn luôn trau dồi thân tâm trong mọi hành động thân, khẩu, ý bằng “Tứ Vô Lượng Tâm”: Đức hạnh Từ, Bi, Hỷ, Xả.

3- Dứt bỏ 10 điều ác và cố tăng trưởng 10 điều lành.

4- Cần phải thông hiểu và nghiên cứu tường tận đạo đức nhân bản nhân quả không làm khổ mình, khổ người.

5- Hằng ngày phải nhớ dùng pháp hướng tâm như lý tác ý: “Tâm như đất, tham, sân, si phải đoạn diệt sạch”

Người cư sĩ cần tu năm pháp môn này, thân tâm được an vui và hạnh phúc trong cuộc sống, chẳng có đối tượng, hoàn cảnh, sự việc nào làm dao động tâm được, đó chính là nguồn giải thoát của đạo Phật trong mọi người cư sĩ, con hãy cố gắng lên! Cố gắng lên tu tập con ạ!

Khi tu tập xả tâm như vậy, tức là con tu tập đạo đức làm người không làm khổ mình, khổ người, không làm khổ mình, khổ người là con đã trả vay nghiệp nhân quả của tiền kiếp, trả vay nhân quả của tiền kiếp tức là con bứt bỏ thất kiết sử, khi bứt bỏ thất kiết sử thì con không còn phóng dật, tâm con không còn phóng dật tức là tâm định trong thân con, tâm định trong thân thì tâm thường thanh thản, an lạc và vô sự, tâm thường thanh thản an lạc và vô sự thì tâm luôn luôn biết hơi thở ra vô một cách tự nhiên không bị ức chế hay bị gom tâm tập trung vào một chỗ.

Khi tâm định trên thân như vậy thì lúc bây giờ là lúc tu thiền định để nhập các định sâu hơn và khó hơn.

Còn nếu con bứt bỏ ngang mà đi tu thì dù con có tu đúng chánh pháp của đạo Phật cũng trở thành tà pháp, tại sao vậy? Tại vì sự bứt ngang bỏ đi, đó là ức chế tâm, chứ không phải xả tâm và như vậy con sẽ bị rơi vào tà thiền, tà định chừng đó con sẽ sống trong Tà kiến của ngoại đạo rất là khó gở.


Thất Kiết Sử là bảy pháp trói buộc con người, khiến cho đau khổ. Bảy pháp đó gồm có:

1/. Ai kiết sử: lòng thương yêu, ưa mến, thích thú của mình đã trói buộc lại mình, làm khổ mình.

2/. Sân kiết sử: lòng sân hận, buồn tức, giận dữ của mình đã trói buộc lại mình, làm hổ mình.

3/. Kiến kiết sử: sự cố chấp cho sự hiểu biết của mình là đúng, còn tất cả sự hiểu biết khác cho là sai. Thế là nó đã trói buộc mình, làm khổ mình, và ai nói gì mình cũng chẳng nghe.

4/. Nghi kiết sử: lòng nghi ngờ tự trói buộc mình, chẳng bao giờ chịu rời bỏ khiến cho mình mất hết nghị lực.

5/. Mạn kiết sử: lòng ngã mạn, kiêu căng, tự đắc, tự trói buộc mình, lúc nào cũng tự xem mình là trên hết. Chính lòng hiu hiu tự đắc nầy đã làm khổ mình mà không dứt bỏ.

6/. Hữu tham kiết sử: những vật mà mình buông bỏ chẳng được, cứ bị nó trói buộc, làm khổ mình hoài.

7/. Vô minh kiết sử: điều mình không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình đã hiểu.

Thí dụ: không hiểu Tứ Thánh Định mà cứ cho là mình hiểu nên xếp nó vào loại Tiểu Thừa thiền, phàm phu thiền, ngoại đạo thiền. Không ngờ thiền nầy là Thánh Trú, là Phạm Trú, Như Lai Trú, vv..


Ngũ Cái hay Ngũ Triền Cái là năm cái màn che đậy:

1/. Tham triền cái: Tham là lòng ham muốn của mình che đậy, làm cho mình không thấy vật ham muốn đó sẽ làm khổ mình.

Thí dụ thấy một chiếc xe Dream (xe mô tô hiện đại của Nhật) khởi tâm ham muốn, tìm mọi cách làm để mua sắm nó. Đó là cái khổ thứ nhất.
Đến khi sắm được xe, chạy xảy ra tai nạn gảy chân tay. Đó là cái khổ thứ hai.

Thế mà khi lòng ham muốn nổi lên, người ta không thấy cái khổ. Cho nên gọi đó là triền cái (ngăn che không thấy khổ).

2/. Sân triền cái là lòng tức giận, ngăn che không thấy khổ. Thí dụ khi nghe người khác mạ nhục, mình tức giận rút cây, hoặc dao rựa ra đánh, hoặc chém người cho hã giận. Khi hết giận thì sự khổ phải ôm lấy, như nằm nhà thương, hoặc ở tù. Lòng sân che đậy không thấy sự khổ sẽ đến với mình đầy dẫy trong cuộc sống hàng ngày nên gọi là sân triền cái.

3/. Si triền cái là cái màn che trí tuệ làm cho nó không hiểu biết chánh pháp, tà pháp, thiện ác. Ví dụ, người ta nói thiền xuất hồn là của đạo Phật, chúng ta liền tin theo, mà không cần suy nghĩ, đó là si triền cái.

4/. Mạn triền cái là cái tự kiêu, tự đại che ngăn làm cho mình không thấy cái chỗ dở của mình. Thí dụ như mình ăn phi thời, phá giới luật, có vợ con, mà vẫn xem mình là một thầy tu, hiu hiu tự đắc, lên pháp đường thuyết giảng mà không biết xấu hỗ, thì đó là bị mạn triền cái ngăn che.


5/. Nghi triền cái là cái lòng nghi ngờ ngăn che không thấy sự thật. Ví dụ, người ta nói một số pháp môn tu tập hiện hành là mê tín, là không đúng theo lời dạy của Phật, mình không tin, nghi ngờ lời nói đó sai (vì các pháp môn nầy do các Thầy, Tổ truyền lại). Chỉ tin vào Thầy, Tổ mà không chịu tìm hiểu cho rõ ràng, đó là bị nghi triền cái che ngăn.


Hỏi: Thế nào là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu?

Đáp:

a. Dục lậu: có nghĩa là lòng ham muốn.

Ví dụ: ham muốn ăn, ngủ, đi nói chuyện, ham muốn đi lao động (trong giờ Bát Quan Trai), v.v..

b. Hữu lậu: là mọi pháp không buông xả được.

Ví dụ: có cái bát bị bể mà tiếc là hữu lậu, mất chiếc xe đạp hoặc các vật dụng tài sản khác thấy buồn bã tiếc nuối là hữu lậu, có 1 vật người ta xin không cho là hữu lậu, v.v...

c. Vô minh lậu: có nghĩa là không hiểu rõ sinh tâm ham muốn, giận hờn, yêu ghét, lo lắng, v.v.. là vô minh lậu.

Không hiểu nhân quả là vô minh lậu. Không thông thập nhị nhân duyên là vô minh lậu.



1- Thân kiến kiết sử: chấp cái thân của mình, chấp cái gì đó là thường hằng bất biến, chấp phật tánh của mình, chấp có cái thường hằng sau khi chết.
2- Nghi kiết sử: trói buộc mình nghi ngờ cái gì đó, nghi người đó ăn trồm, bắt mình cứ dòm chừng người đó hoài. Đó là nó đang trói buộc mình, gọi là nghi kiết sử.
3- Giới cấm thủ kiết sử: Phật dạy chúng ta có 18 giới: mắt thấy đồng hồ sanh ra một cái thức, khởi ra tâm ham muốn. Vì vậy gọi là giới cấm thủ. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức biết, sanh ra ham thích. Chính 18 chổ này làm thành 18 sợi dây giới cấm thủ luôn trói buộc chúng ta. Thấy cái gì mà khởi ra ham muốn là nó đang trói buộc chúng ta.
4- Tham kiết sử: trói buộc mình vào tham muốn cái này cái nọ.
5- Sân kiết sử: trói buộc mình luôn khởi tâm sân hận ai đó.


1- Sắc tham: là lòng tham vật chất, khi thấy thì khởi lòng tham.
2- Vô sắc tham: do nghe người ta nói cái gì đẹp, tốt liền khởi lòng ham muốn, đó là vô sắc tham.
3- Mạn: là kiêu mạn, lòng ngã mạn của mình.
4- Trạo cử: là nó làm cho mình nghĩ ngợi cái này, nghĩ ngợi cái kia hoặc cái thân bị ngứa ngái không ngồi yên được, nó gãy bên đây, móc bên kia, thì gọi là trạo cử thân, còn trạo cử tâm thì nó nghĩ hết cái này rồi nghĩ đến cái khác, lung tung đủ thứ. Hoặc là mình ngồi chỗ này một lát, mình đứng dậy đi, rồi ngồi lại, rồi mình đứng, rồi nằm, đủ cách, đó là bị trạo cử.
5- Vô minh.


1- Ái kiết sử: thương yêu, ghét
2- Sân kiết sử.
3- Kiến kiết sử là ý kiến của mình, kiến chấp, cãi luận dựa vào kiến chấp của mình.
4- Nghi kiết sử: cũng giống như ở trên, nhưng ở đây nó tóm lược lại vào thất kiết sử để không bị trùng, cũng là sự trói buộc vào những nghi ngờ.
5- Mạn: là kiêu mạn, ngã mạn.
6- Hữu tham kiết sử: thuộc về tham.

7- Vô minh kiết sử: thuộc về si.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Yêu thương con người, không yêu lạc thú

Abd al-Rahman không bao giờ có thể biết tổng hạnh phúc mà ông có được. Bởi vị vua này không bao giờ biết được công thức đúng để tìm kiếm hạnh phúc.

Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển

Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh.

Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu.

Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.

Duyên nhân quả vợ chồng

Hỏi: Kính thưa Thầy, vợ chồng lấy nhau, người ta bảo rằng, đều có số định cả, có nghĩa là người này phải lấy người mà có số định với mình, không được lấy người nào khác. Có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Không phải số định mà cũng không phải số mệnh mà là duyên nhân quả nợ vay trong thuận cảnh, cũng như trong nghịch cảnh.

Ví dụ: Kiếp trước chúng ta đối xử với những người làm công cho mình quá khắc nghiệt, đánh đập, chửi mắng, trả tiền công ít, v.v..

Những mê tín dị đoan thường gặp

Những đoạn dưới đây được trích cuốn “Đường về xứ Phật” và cuốn “Người Phật tử cần biết” nói về những mê tín dị đoan dưới hình thức vấn đáp, Tự hiểu mình's Blog xin được trích đăng:

Phiếm luận về thời gian

"Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta. Nhưng chính ta là ngọn lửa."
Jorge-Luis Borges

Pháp hướng tâm

Pháp hướng tâm như thế nào? Pháp hướng tâm là pháp dẫn tâm vào một lý chân chính, giải thoát của đạo. Pháp chân chính giải thoát của đạo là gì? Pháp chân chính giải thoát của đạo là chỉ thẳng vào mọi duyên, mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, mọi sự việc xảy ra đều hiểu biết rõ nó là vô thường, khổ, và không có thực thể bản ngã trong đó; do các duyên hợp lại mà thành, và duyên tan là mất hết, không còn có cái gì tồn tại. Khi đã hiểu rõ như vậy và thấy rõ như thật, thì dùng Pháp hướng mà nhắc tâm như vầy:

Có nên xuất gia khi gia đình chưa đồng ý?

Hỏi: Muốn được xuất gia nhưng vợ không đồng ý.

Qua thư Thầy con biết việc xuất gia của con còn nhiều trở ngại, vì Thầy viết “nhận” nhưng với điều kiện không làm khổ mình, khổ người. Có nghĩa là vợ con phải vui lòng cho con xuất gia tu hành.

Một người bạn đời chưa giác ngộ như vợ con thì việc đó quả thực là khó khăn.

Thiếu nghị lực, nhiệt tâm và ám thị

Hỏi: Kính thưa Thầy! Tại sao con buông xả quá chậm, nay được mai mất, con chưa làm chủ được gì? Con không biết tìm biện pháp nào mạnh hơn? Dùng Định Vô Lậu, tu pháp Hướng Tâm sao chưa được thấy kết quả hay con đã quán xét, tư duy chưa thấu triệt, tu tập pháp hướng chưa đúng mức?

Thân hành là gì?

Hỏi: Kính bạch Thầy, về quán niệm hơi thở:

1- “An tịnh thân hành tôi biết thở vô/ ra”. Thân hành ở đây là gì? Có phải là hơi thở hay thân thể, hoạt động thân nói chung?

2- Hỷ thọ khác lạc thọ như thế nào?

3- Quán vô thường, quán ly tham, tôi sẽ thở vô/ra....?: Khi quán cần phải có thời gian suy xét, thẩm sát..., sao lại có thể thực hiện được trong khoảnh khắc ngắn ngủi trước mỗi hơi thở? Khi quán vô thường con phải trải qua nhiều lần thở ra thở vô, Vậy có đúng không bạch Thầy?

4- Niệm hơi thở khi không có tác ý, chỉ đơn thuần biết thở vô ra khác với tùy tức trong Lục Diệu Pháp Môn như thế nào? Ngoài một bên là xả tâm, một bên là ức chế tâm thì Định Niệm Hơi Thở của Phật có khác với Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh của Lục Diệu Pháp Môn như thế nào?

Tháng bảy tro bụi

Tháng bảy âm lịch ngày gần cạn, ngôi chùa nhỏ gần nhà gửi thư lần chót nhắc các gia đình có hài cốt thân nhân nhớ làm trọn bổn phận làm con.

Tại sao không nên tin vào chính mình?

Bertrand Russell có một câu nói nổi tiếng là “Vấn đề của thế giới chính là lũ điên thì lại chắc chắn về bản thân mình còn người thông minh thì lúc nào cũng trăn trở về điều đó.”