Sách của Thầy Thích Thông Lạc

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Sách hay chia sẻ, Phật pháp cho người hữu duyên. Bạn có thể download sách của Thầy Thích Thông Lạc theo các đường link dưới đây:



Và đây là bộ sưu tập (tạm thời) sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã download từ các trang web trên, bạn có thể tải về: Click tại đây

Gợi ý: Bạn nên tải và đọc trước tác phẩm: 'Đường về xứ Phật'; 'Những lời gốc Phật dạy'; và 'Đạo đức làm Người'. Nếu bạn quan tâm đến Thiền nên tham khảo thêm: 'Trở về đạo Phật'

Bốn sự thật của loài Người

Khi nghiên cứu về đạo Phật, các nhà học giả phần đông ai cũng ra công tìm hiểu TỨ DIỆU ĐẾ. TỨ DIỆU ĐẾ là pháp môn đầu tiên của đức Phật, từ khi tu chứng đạo và đem pháp môn này ra dạy cho năm anh em Kiều Trần Như. Đó là chuyển pháp luân lần đầu tiên trong lịch sử của Phật giáo. Pháp môn này không có một tôn giáo nào trên hành tinh này có được. Ngài dám khẳng định về con người có bốn sự thật cần phải hiểu rõ. Nếu không hiểu rõ bốn sự thật này thì con người không bao giờ thoát ra mọi sự đau khổ của cuộc đời.

Vị minh sư Phật giáo

Người vô duyên không được gặp Phật Pháp, cuộc đời trôi theo dòng nước dục lạc uế trược thế gian, bảy nổi ba chìm, khổ đau vô tận, từ kiếp này chuyển sang kiếp khác không bao giờ dứt, như con kiến đi quanh vòng miệng lu.

Xã hội tiêu thụ và con người

Ảnh từ phim hoạt hình Man của Steve Cutts
Thời đại của chúng ta đang sống, trong cơn bão lôi cuốn của lý thuyết và thực tiễn toàn cầu hóa (Mondialisation, Globalisierung), không chỉ có một số ít mặt tích cực mà đem lại cho chúng ta nhiều điều tiêu cực cần phải sửa đổi. Nhưng ai sửa đổi và làm cách nào, bằng phương tiện nào để sửa đổi?

Chuyển nhân quả

Chơn Như ngày 26/ 10/ 2001
Kính gửi: Liễu Pháp!

Con đã từng bước chân vào bệnh viện tâm thần, gặp biết bao nhiêu người điên khùng hơn cháu Ngọc, thì con thử nghĩ gia đình họ khổ đau như thế nào? Khi có một người bị bệnh tâm thần.

Đó là do nhân quả đời trước của mình tạo ra.

Đây là một sự khổ trong muôn vàn sự khổ của kiếp người. Người bị bệnh thần kinh có cái khổ của bệnh thần kinh; người bị bệnh ung thư có cái khổ của bệnh ung thư; người bị bệnh cùi có cái khổ của bệnh cùi; người bị bệnh lao phổi có cái khổ của bệnh lao phổi, v.v… Người không bệnh vẫn có cái khổ của người không bệnh, cho nên nhìn chung thì con người sống trên hành tinh này ai cũng đều có khổ. Đã làm người thì phải có khổ, khổ nhiều hay ít thôi.

Con cứ suy ngẫm, nếu một người chưa biết Phật pháp thì làm sao biết ngăn ác diệt ác, vì thế họ khổ như thế nào?

Người biết Phật pháp mà cứ để tâm mình khổ, tức là mình không chuyển hóa tâm mình thì làm sao hết khổ. Ai chuyển hóa cho tâm mình hết khổ đây?

Ngay trong đời của con, con đã chịu nhân quả quá nặng nề, nhưng nặng nề đối với người chưa biết tu, chứ đối với người biết tu thì đâu còn nặng nề, chỉ vì người ta biết giữ tâm thanh thản, an lạc, tức là biết ngăn ác diệt ác pháp.

Còn con thì sao? Có biết ngăn ác diệt ác pháp không? Biết sao con khổ vậy?

Nếu theo đạo Phật thì phải từ trên nhân quả đó mà tu, tu như vậy mới thấy sự giải thoát chân thật.

Nếu trên cuộc đời ta càng gặp nhiều khổ đau thì ta càng tu nhiều, càng xả tâm nhiều, càng an vui trong cái khổ đau đó. Đó là ta đã vượt lên trên nhân quả đau khổ thì ta sẽ hết đau khổ.

Người đau khổ ít mà không biết tu thì cũng thành đau khổ nhiều; người đau khổ nhiều mà biết tu thì cũng hết đau khổ.

Pháp hướng tâm của Phật có linh nghiệm với người giữ gìn giới luật nghiêm trì, sống đời sống phải thanh tịnh, tâm phải hết tham, sân, si, do đó mà pháp hướng tâm mới chuyển đổi được nhân quả.

Còn ở đây, tâm con bị động trước nhân quả, con quá quằn quại khổ đau, con không thấy đó là nhân quả sao? Đã thấy nó là nhân quả sao tâm con không bình tĩnh, không vượt lên trên nhân quả đó.

Khi tâm con bình tĩnh vượt lên nhân quả khổ đau thì mọi nhân quả khổ đau sẽ được chuyển đổi.

Con có đủ can đảm để nghe những nhân quả đời trước của con không? Nhất là của cháu Ngọc. Vì thế kiếp này cháu sinh ra là thần kinh yếu kém.

May mắn con có gieo duyên với chánh pháp của Phật, nếu không giờ con đã khổ đau chừng nào?

Nhân quả khổ này chuyển được chứ không phải không chuyển được, chuyển được bằng tâm bất động trước các ác pháp này.

Con đã tu hành theo Phật mà không ngăn ác diệt ác pháp này trong tâm con thì làm sao con chuyển đổi nghiệp báo nhân quả của đời con được. Chính con có tu mà tu trong thất, chứ không có tu trong cuộc sống, tu như vậy không thực tế đâu con ạ!

Con đã biết nhân quả chỉ là một trò diễn xuất trên sân khấu chứ nó đâu có thật, thế mà vì vô minh chúng ta thấy nó có thật.

Đời này cháu Ngọc đóng vai trò điên khùng của nhân quả, chứ cháu Ngọc có điên khùng đâu, thế mà con lại khổ đau và thương khóc, rõ ràng là con thương vay khóc mướn trên màn ảnh ti vi.

Ngăn ác diệt ác là pháp chuyển đổi nhân quả đấy con ạ!

Con có chuyển hay là để tâm buồn khổ.

Nếu chuyển thì tâm con có an không? Còn không chuyển thì đó là địa ngục con ạ!

Hằng tháng con có những ngày Thọ Bát Quan Trai, nhưng Thọ Bát Quan Trai để mà Thọ Bát Quan Trai thì có nghĩa lý gì? Thọ Bát Quan Trai là để làm Phật, để chuyển nhân qủa cho mình hết khổ đau con ạ!

Đừng hiểu nghĩa chuyển nhân quả là chuyển hoàn cảnh thì sai.

Hoàn cảnh như thế nào thì chúng ta sống như thế nấy, nhưng tâm ta bất động trước mọi hoàn cảnh vui cũng vậy, buồn cũng vậy. Đó là chuyển nhân quả.

Thầy chỉ ước nguyện cho con thực hiện chuyển nhân quả của tâm con được viên mãn thì hoàn cảnh gia đình con sẽ tốt đẹp hơn.

Cho nên, Thầy dạy tu là sống, sống là tu là như vậy.

Kính thư,

Thầy của các con
Trưởng lão ThíchThông Lạc

Ức chế thân tâm, tâm giải thoát

ỨC CHẾ THÂN TÂM

Như thế nào là tu ức chế thân, tâm?

Do sự hiểu biết của tôi còn nông cạn, tôi chỉ cố gắng nêu ra những gì mình hiểu biết, để giúp cho đường tu của mình rõ ràng hơn, bởi vì không khéo tu tập, chỉ cần lỡ một chút là tu ức chế tâm, tu sai, có thể đi xa ngàn dặm, biến sự giải thoát của Phật giáo trở thành chướng ngại cho cuộc đời tu của mình.

Từ những lời dạy của thầy Thích Thông Lạc, tôi biết được trạng thái giải thoát của đạo Phật nằm ở chổ tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Vậy như thế nào là thanh thản, an lạc và vô sự?

Thanh thản ở đây là chỉ cho tâm thanh thản, không bị chướng ngại, không bị dục và ác pháp lôi kéo, là tâm không dính mắc vào 6 trần, là tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi và 17 kiết sử trói buộc.

An lạc ở đây là chỉ cho thân an lạc, là thân không bị chướng ngại hay cảm thọ nào như không có bệnh tật, đau nhức, ngứa ngáy, khó chịu, nhột, mệt mõi, buồn ngủ, hôn trầm thùy miên, vô ký, ngoan không,... Thân không làm một sự việc gì, có nghĩa là thân không ăn, không nhai, không nuốt, không uống, v.v... ấy là THÂN AN LẠC. Thân an lạc là niệm Vô Sự của thân.

Không cột chặt 6 căn như: Tập trung mắt nhìn vào một điểm không chớp mắt, tai tập trung nghe âm thanh nào đó không bỏ ra,... Thích ngồi thiền kiết già lâu, càng lâu càng tốt, ngồi nhiều giờ, ngồi kiết già đau chân là bị chướng ngại ở thân, ráng ngồi chịu đau là đang ức chế thân; đi kinh hành nhiều giờ làm cho thân mệt mõi là đang ức chế thân. Muốn thân an lạc thì ngồi kiết già thấy đau chân thì xả ra ngay, đi kinh hành thấy mõi chân thì ngồi nghỉ.

Vô sự là chỉ cho thân tâm không còn bị chướng ngại nào cả, không còn dính mắc vào điều gì, vào bất kỳ pháp nào.

Không vô sự nghĩa là đang hữu sự. Hữu sự là đang dính mắc. Đang dính mắc có thể là dính mắc vào dục, ác pháp, kiết sử, các pháp trần bên ngoài, vào pháp tu tập, vào các trạng thái tu tập,... Ví dụ: đang tu tập các loại pháp môn là đang hữu sự, đang nhiếp tâm cho hết vọng tưởng, nhiếp tâm không cho khởi niệm thiện niệm ác, đang ngồi thiền, đang tụng kinh, đang sám hối, đang trì chú, đang niệm thần chú, đang chú tâm vào hơi thở, đang tập trung nhìn vào một điểm nào, đang chú tâm nhìn bụng phình xẹp, đang đếm hơi thở, đang tập pháp này pháp nọ, đang tập trung nhìn vào bước chân đi hay từng hành động của thân, đang bám vào hay đang nhìn hoặc đang cố giữ các trạng thái vắng lặng, tĩnh lặng, khinh an hỷ lạc, trạng thái bất động thanh thản an lạc và vô sự, đang tư duy quán xét là đang hữu sự,....

Còn một trạng thái tu ức chế tâm mà ít ai thấy đó là người đi tu thích vào chùa, tu viện tu, hoặc đi tìm những nơi vắng vẻ để tu hành. Vào những nơi thanh tịnh như vậy thì làm sao biết được tâm mình có xả hay không? không có chướng ngại hay đối tượng thì làm sao biết tâm mình còn tham, sân, si, mạn, nghi hay không? tu như vậy là tu ức chế tâm. Ngược lại, người tu tập có đối tượng mà luôn xả tâm thì sự giải thoát nhanh và không bị ức chế tâm.

Từ sự suy xét trên tôi rút ra được bài học, người tu theo đạo Phật muốn tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự thì chỉ có ngồi chơi thanh thản, an lạc và vô sự. Ngồi, đi, đứng, nằm tự nhiên như người nhàn ru, nhưng phải tỉnh táo với ý thức biết rõ mọi vật xung quanh, thấy biết rõ mọi pháp xung quanh, mọi đối tượng tác động vào nhưng không dính mắc, không bị lôi kéo cám dỗ, đó gọi là thiền xả tâm của đạo Phật. Ngồi chơi biết rõ từng tâm niệm. Niệm ác thì quán xét tư duy thấy rõ tai hại, nguy hiểm của chúng, dùng pháp "Như lý tác ý" đuổi, cương quyết không làm theo, từ bỏ và đoạn diệt. Niệm thiện thì cũng quán xét tư duy sâu để tăng trưởng chúng.

Sự giải thoát của đạo Phật đâu cần tu tập gì nhiều, đâu cần công phu sáng chiều tối, đâu cần ôm pháp này tu ôm pháp kia tu,...Không cần tu tập gì cả mới thấy được sự giải thoát của đạo Phật. Đó là trạng thái giải thoát cần được giữ gìn và hộ trì. Ngồi chơi suốt ngày, không sướng hay sao, hay là phải cực nhọc ôm pháp này tu, ôm pháp khác tu mới gọi là thoải mái. Trong bài giảng “Tu Tập Giải Thoát” thầy Thích Thông Lạc có dạy rõ điều này.

Tu là xả tâm, là sửa tâm, sửa những tật, những thói quen, những tâm xấu thành tốt, sửa những tâm chạy theo dục và ác pháp thành tâm ly dục và ác pháp. Chỉ cần chúng ta hiểu đâu là dục, đâu là ác pháp, đâu là tai hại, sự nguy hiểm của chúng, rồi chúng ta không chạy theo sự cám dỗ của chúng nữa là xong.

Càng ôm pháp tu tập thì càng làm cho thân tâm mõi mệt, đó là chúng ta đang ức chế thân tâm. Tu theo đạo Phật là xả tâm, xả những tâm tham, sân, si, mạn, nghi, những kiết sử trói buộc.

Chúng ta thử tự suy xét lại xem, ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, luyện thần chú, tập trung vào hơi thở, tập trung chú ý bụng phình xẹp,... có làm hết tham sân si, mạn, nghi và những kiết sử không? Muốn tham, sân, si, mạn, nghi và những kiết sử hết thì chúng ta phải tự mình ly, từ bỏ và đoạn diệt chúng bằng cách sống không còn chạy theo những cám dỗ của chúng nữa. Chỉ cần chúng ta sống giữ gìn giới luật, sống độc cư, ngồi chơi thì những thói quen, tật xấu, những dục lạc, ác pháp, kiết sử sẽ tuông trào ra cám dỗ, lôi kéo chúng ta chạy theo chúng. Nhưng nếu chúng ta không làm theo, không chạy theo, không để chúng lôi kéo là chúng ta đang ly dục, ly ác pháp và các kiết sử. Chỉ có như vậy thì các tâm tham, sân, si, mạn, nghi mới không còn nữa.

Từ xưa tới nay chúng ta đã huân tập vào những dục lạc ham muốn và ác pháp của thế gian. Chúng đã tạo thành nghiệp. Hôm nay chúng ta sống giữ gìn giới luật, sống độc cư, phòng hộ sáu căn thì những niệm dục và ác pháp phải tuông trào ra. Chúng tuông trào ra là chúng đang vùng vẫy giãy dụa, chúng đang lý luận đủ mọi cách để lôi kéo chúng ta trở về đời sống dục lạc thế gian, vì đó là môi trường sống của chúng. Giống như nước là môi trường sống của các loài cá. Khi cá bị bắt lên bờ hoặc mắc cạn, các chú cá vùng vẫy, giãy dụa, nếu không cho trở về môi trường nước lại thì chúng sẽ yếu dần và chết. Cũng vậy, trong môi trường giới luật, sống độc cư, phòng hộ sáu căn, những niệm dục, ác pháp và các kiết sử sẽ vùng vẩy, giãy dụa tuôn trào ra, lúc đầu rất mạnh, nhưng nếu chúng ta kiên trì ly dục ly ác pháp, không chạy theo những cám dổ, lôi kéo của chúng thì chúng sẽ hết sức, yếu dần và mất hẳn. Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra rằng “tâm tôi không có tham, tôi biết tôi không tham, tâm tôi không sân, tôi biết tôi không sân, tâm tôi không si, tôi biết tôi không si,...”. Chính chổ tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi là tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Dĩ nhiên trong quá trình tu tập khi thân tâm có chướng ngại pháp, bị dục và ác pháp tấn công thì chúng ta phải ôm pháp tu tập, nhưng khi các chướng ngại pháp, dục và các ác pháp bị đẩy lui thì chúng ta phải buông bỏ các phương pháp tu tập xuống, đừng ôm mãi nữa. Vì còn ôm pháp là còn hữu sự, chưa vô sự.

Do vậy, người tu theo đạo Phật rất cần thiết phải:

Giữ gìn giới luật, giới luật không phải là luật pháp hay giới cấm. Chúng ta phải hiểu rằng giới luật là thiện pháp, là những đức hạnh dạy chúng ta sống không còn làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh nữa. Giới luật giúp cho chúng ta thay hình đổi dạng, từ người xấu trở thánh tốt thiện, biết sống thương yêu và tha thứ. Giới luật giúp cho chúng ta mang niềm vui và hạnh phúc đến cho mình, mọi người và muôn loài vạn vật chúng sinh khác.

Tu Định Chánh Niệm Tĩnh Giác và Định Niệm Hơi Thở để tâm luôn tỉnh thức nhận ra được từng tâm niệm ác thiện, từ đó mới nhận ra được từng tâm niệm dục và ác pháp, do nhận ra thì mới ngăn và diệt ác pháp, làm cho sanh và tăng trưởng những niệm thiện.

Tu Định Vô Lậu để thấy rõ, hiểu rõ những nguy hại, nguy hiểm, tác hại của những niệm dục, ác pháp và những kiết sử.

Sau khi quán xét vô lậu rõ ràng thì chúng ta mới buông xả dễ dàng. Tu định vô lậu còn để thấu hiểu các pháp thế gian, những sự việc, những diễn biến xảy ra hằng ngày xung quanh đều là những màn kịch của nhân quả. Mỗi người, mỗi vật, mỗi hoàn cảnh xung quanh chúng ta đang là những diễn viên, tài tử, phim trường, kịch trường đại diện cho nhân quả diễn xuất những nhân quả thiện ác mà chúng ta đã gieo trong quá khứ. Trong phim ảnh hay kịch bản thì phải có người tốt, người xấu, người phản diện, người chánh diện, người đóng vai phụ, người đóng vai chánh, nhưng dù họ đóng vai trò gì thì sau khi phim kịch kết thúc, họ đều trở về một người bình thường, không liên quan gì đến kịch bản cả.

Do hiểu rõ nhân quả như vậy, khi bị ai hại, chửi mắng, đánh đập, cướp giật, chỉ trích, nói xấu, lừa dối,... chúng ta đừng trách móc, hờn giận, chửi mắng nói xấu ai, bởi vì họ đang đóng kịch nhân quả thôi, họ cũng không muốn đóng vai phản diện, vai xấu như vậy đâu.

Lỗi là lỗi của ta đã gieo nhân xấu cho nên ngày nay mới gặp những tài tử xấu này, chính họ đang cho chúng ta thấy lại những gì chúng ta đã gieo, do hiểu rõ điều này chúng ta hãy luôn sống thương yêu và tha thứ, dù nhân quả đến như thế nào, diễn xong vỡ kịch này họ sẽ trở về đời sống bình thường của họ, vẫn là một người tốt, không ai là không muốn trở thành người tốt, không ai muốn trở thành người xấu đâu, nhân quả là vô thường mà, rồi tất cả sẽ trở thành người tốt, người thiện, và người lành. Họ đang giúp đỡ chúng ta đó, đang là đối tượng để giúp chúng ta tu tập xả tâm,... Do có đôi mắt nhân quả như vậy mà tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Biết sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

Tu Định Sáng Suốt để thân tâm trở về trạng thái cân bằng, khỏe mạnh sau khi tu tập các loại định trên. Nghĩa là ngồi xả nghỉ nhưng tâm luôn sáng suốt không bị mê mờ, không rơi vào các trạng thái hôn trầm, thùy miên, vô ký ngoan không.

Tóm lại, sự thông suốt đúng đường lối tu tập của đạo Phật giúp cho chúng ta đi đúng, tu đến đâu là thấy sự giải thoát ngay đến đó, giống như lời Phật dạy “Đạo ta, không có thời gian, đến để mà thấy”. Đến là thấy sự giải thoát ngay. Tu mà chỉ ngồi chơi thì làm sao không thấy sự giải thoát phải không các bạn?

Ngược lại nếu chúng ta thấy chúng ta tu tập mà gặp quá nhiều chướng ngại, thấy thân tâm mệt mõi, bệnh tật đến thăm triền miên, nay đau chổ này, ngày mai đau chổ khác, không thấy thân tâm thanh thản an lạc và vô sự thì chúng ta nên coi lại cách tu của mình, do mình quá vội vã chưa thông suốt những gì cần thông suốt mà đã lo tu tập, do mình hiểu sai, chọn sai cách tu tập, do mình chọn lầm pháp môn tu tập, do mình không tu pháp xả tâm mà chỉ lo ôm pháp tu ức chế tâm, do mình chưa xả tâm ở ngoài đời mà đã vào chùa tu,... Trong bài giảng “Căn bản tu hành từ thấp đến cao” thầy Thích Thông Lạc đã nói về vấn đề này.

Vào chùa tu ít đối tượng thì làm sao biết được tâm mình mà xả, vào chùa ôm pháp này pháp kia tu làm sao gọi là xả tâm được, chỉ làm cho thân tâm thêm mệt mõi, đâu khác gì người ngoài đời đi làm, ngày nào cũng như ngày nấy ôm cái máy tính, ôm máy móc để sửa, ôm một đống giấy tờ để làm sổ sách,... Do cứ ôm pháp này pháp nọ tu rồi biến pháp tu tập đó thành cái nghề luôn, như nghề tụng kinh, nghề cầu an, cầu siêu, nghề dạy ngồi thiền, nghề dạy bắt ấn, nghề dạy luyện thần chú.

Do sự tu tập của tôi còn chưa có nhiều kinh nghiệm, không tránh khỏi còn nhiều thiếu xót trong vấn đề nhận ra sự ức chế của thân tâm. Nếu quý đạo hữu nào biết như thế nào là tu tập ức chế thân tâm, kính mong quý đạo hữu bổ sung thêm! Cám ơn.

TÂM GIẢI THOÁT

Dựa vào bài "Món ăn giải thoát" của thầy Thích Thông Lạc giảng, chúng ta đã xác định được tâm giải thoát của đạo Phật là "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự". Cái quan trọng là làm sao giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chân lý này suốt cuộc đời, bởi vì chính tâm này là tâm Niết Bàn.

Qua những bài giảng cuối đời của thầy Thích Thông Lạc, thầy luôn luôn nhấn mạnh cho chúng ta thấy đạo Phật là đạo trí tuệ, trí tuệ đó là do chúng ta tự triển khai sự hiểu biết đúng với đường lối của Tứ Diệu Đế, lý nhân quả, lý vô thường, lý vô ngã, quán thân bất tịnh, thức ăn bất tịnh, ... để từ đó đứng trước mọi việc xảy ra trong cuộc sống, tâm chúng ta không bị lo lắng, phiền não, sợ hãi, sân giận và đau khổ, tâm luôn giữ được bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Lời thầy Thích Thông Lạc dạy: "Trí tuệ là sự hiểu biết và tư duy đều giống nhau cả. Nhưng sự tư duy suy nghĩ một điều gì mà do lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thúc đẩy thì đó gọi là trí tuệ thế gian; còn sự tư duy, suy nghĩ đó mà đi ngược lại với lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thì đó là trí tuệ giải thoát, còn gọi là tri kiến giải thoát."

Nếu không triển khai tri kiến hiểu biết về Tứ Diệu Đế, nhân quả, vô thường, lý vô ngã, quán bất tịnh,... thì tâm sẽ bị lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, sân giận và đau khổ. Do vậy việc triển khai tri kiến rất là quan trọng. Không có tri kiến giải thoát này thì chúng ta tu hành sẽ bị rơi vào ức chế tâm, không xả tâm được, chỉ dồn nén, chịu đựng mà thôi.

Tại sao nói rằng tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là tâm giải thoát? Chúng ta hãy thử giải thích từng cụm từ một.

Bất động là không dao động trước bất kỳ một pháp nào nữa nghĩa là tâm không dao động trước các dục, ác pháp và các cảm thọ. Không bị chúng lôi kéo, cám dỗ, xúi dục, trước các cảm thọ đau nhức tâm không lo lắng, sợ hãi, phiền não, sân giận và đau khổ.

Thanh thản là tâm không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, sân giận và đau khổ.

An lạc là nói về thân được khinh an, an lạc không bị một bệnh tật đau nhức nào.

Vô sự là nói về sự buông xả hoàn toàn, không còn dính mắc vào thứ gì trên đời, tất cả đều buông xuống, không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi và đau khổ nữa.

Do đó tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự là tâm giải thoát, là tâm chứng đạo, là tâm niết bàn.

Khi biết được trạng thái tâm giải thoát này chúng ta hãy luôn giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chúng bằng phương pháp "Như Lý Tác Ý" và bằng Tứ Niệm Xứ. Như Lý ở đây là như lý của sự giải thoát, như lý của sự giải thoát là "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự", đó là chân lý thứ ba trong Tứ Diệu Đế - diệt đế. Tác ý là thầm tác ý hoặc hướng tâm đến lý giải thoát này. Khi chúng ta thường xuyên tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì tâm của chúng ta ở trong trạng thái CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC.

Trước mọi việc xảy ra trong cuộc sống, chúng ta phải mạnh dạn vượt qua, không để bị đắm nhiễm, nhiễm ô vào dục và ác pháp, không để cho chúng lôi kéo, cám dỗ và xúi dục chúng ta, bằng câu tác ý: "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự."

Ví dụ: khi đứng trước hình tướng người nữ hoặc hình tướng người nam, chúng ta triển khai tri kiến, thân họ là bất tịnh, là thân hôi thúi, uế trược, là nguyên nhân của sanh tử luân hồi,... Sau đó ta tác ý trong đầu: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được dính mắc vào, dính mắc là đau khổ muôn ngàn kiếp".

- Khi bị chửi mắng, la hét, ta triển khai tri kiến rằng: người đó đang nóng giận, họ đang đau khổ, hãy yêu thương họ, hoặc ta quán nhân quả thấy việc họ la mắng ta là do ta đã gieo nhân xấu trong quá khứ, nay phải chịu quả báo như vậy, ta thấy lỗi là do mình trước, nên im lặng hoặc nhận lỗi để giúp cho cơn sân giận của họ được giảm xuống, sau đó thầm nhắc: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được sân giận, hãy yêu thương họ".

- Khi tâm khởi lên muốn ăn uống phi thời, ta triển khai tri kiến về thức ăn là bất tịnh, ăn vào rồi thì chúng đã thành phân, thành những thứ chua hôi, có nhổ ra cũng không ai dám ăn. Chúng ta ăn để mà sống, sống để tu, nhất quyết không ăn uống phi thời, ăn uống linh tinh, chạy theo tâm tham dục ăn uống, do vậy ta thầm nhắc "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, tâm không được tham ăn, tâm tham ăn cút đi."

- Khi thân bị bệnh đau nhức, chúng ta triển khai tri kiến rằng: bệnh là do nhân quả, là vô thường, thay đổi, đến rồi đi, có gì đâu mà sợ, trước sau gì mày cũng biến mất. Rồi thầm nhắc "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, mặc kệ nó, không cần lo lắng, sợ hãi gì cả". Dù cho bệnh có đau nhức cỡ nào, sưng to, chảy nước mắt, đau như kim châm, dù cơn đau như ai cắt ruột, như ai banh da, xẻ thịt cũng chẳng hề dao động, phải bình tĩnh sáng suốt, không sợ, chỉ cần bền chí, kiên trì, dũng mãnh giữ tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là sẽ vượt qua, làm chủ nhân quả.

Rõ ràng nhờ triển khai tri kiến giải thoát thì tâm chúng ta mới bảo vệ và giữ gìn được chân lý giải thoát là tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Nếu không triển khai tri kiến giải thoát mà chỉ tác ý câu "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự" thì đó cũng là ức chế tâm. Do vậy sự xả tâm của đạo Phật chính nhờ vào triển khai tri kiến, sự hiểu biết như thật tất cả các pháp đều là nhân quả, đều vô thường, đều không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta, đều khổ,... Chính vì vậy đạo Phật gọi là đạo trí tuệ.

Sự giải thoát của đạo Phật rất rõ ràng, ai sống đúng đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là CHỨNG ĐẠO. Sự chứng đạo của Phật giáo không có khó khăn, không có mệt nhọc chỉ cần chịu khó học tập đạo đức nhân bản – nhân quả, để có tri kiến giải thoát thì tâm sẽ luôn luôn ở trạng thái giải thoát, trạng thái tâm giải thoát gọi là Chứng Đạo. Lời thầy Thích Thông Lạc dạy: "Học đạo đức là học xả tâm; là học làm người không bao giờ bị ràng buộc bởi những ác pháp; là học làm người mà ra khỏi bản chất tham, sân, si, mạn, nghi của con người." Nhờ học được đạo đức mà tham, sân, si, mạn, nghi không còn tác động vào tâm, do vậy tâm luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Qua đó ta thấy những lời khuyên của thầy Thích Thông Lạc trong các bài giảng cuối đời rất là quan trọng và hữu ích, chúng giúp cho chúng ta đi đúng đường, tu hành không còn bị ức chế nữa. Khi tu đúng đường thì tu đến đâu, xả đến đâu, thấy rõ sự giải thoát đến đó. Từng phút từng giây làm chủ tâm mình, biết rõ tâm mình đang giải thoát, vì hiểu rõ nó đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Chỉ cần ngày ngày giữ gìn và bảo vệ và hộ trì tâm giải thoát này thì tâm ta đã tương ưng với Phật, với Thầy, vì nó chính là tâm Niết Bàn rồi.

Tri kiến giải thoát rất quan trọng, dù cho chúng ta có biết rõ đường lối tu tập của đạo Phật mà không có tri kiến giải thoát thì có tu ngàn năm cũng không giải thoát. Tri kiến giải thoát phải được trau dồi, quán đi quán lại thường xuyên, quán càng sâu, càng nhiều cách thì mới thấm nhuần xả được những dính mắc, những ham muốn, ác pháp và các cảm thọ. Nếu chỉ quán sơ sơ, nghĩ là mình đã thông suốt thì chưa chắc đã xả tâm được. Do vậy, tri kiến giải thoát rất rất quan trọng cho việc xả tâm. Xả tâm được hay không chính là nhờ vào tri kiến giải thoát.

Giữ gìn, bảo vệ và hộ trì tâm giải thoát, không phải là ngồi nhìn vào nó, thích trạng thái đó. Nhìn vào nó là sai. Hãy sống bình thường, để tâm tự nhiên, hiểu rõ khi tâm không còn phóng dật, không còn dính mắc vào bất kỳ pháp gì, nó im lặng sáng suốt thì đó là tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Biết như vậy là đủ, không cần phải tìm nó, cố giữ nó không cho mất, ngồi nhìn nó sợ nó mất. Chỉ cần sống bình thường tự nhiên như người vô sự.

Sau một thời gian học tập, đã quán xét và trau dồi tri kiến giải thoát nhiều lần và sâu, chúng ta sẽ nhận ra đến một lúc nào đó, những tri kiến về các pháp thế gian là nhân quả, là vô thường, là không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta, là bất tịnh, là khổ,...đã thấm nhuần, đã nhuần nhuyễn, đã hiểu rõ như thật, đời sống đã buông xả sạch, thì không cần quán vô lậu nữa. Lúc đó, khi có bất kỳ niệm dục, ác pháp hay cảm thọ khởi ra thì tâm tự hiểu rõ chúng như thật và thầm hướng tâm đến chân lý giải thoát "tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự.". Không cần quán và nhắc dài dòng như xưa nữa.

Mỗi khi có niệm khởi lên, chỉ cần thầm hướng tâm vào chân lý giải thoát là đủ. Từ đó ta sẽ nhận thấy và hiểu rõ ta đang giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chân lý giải thoát "tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự." suốt ngày, suốt đêm, ngày này qua ngày nọ, sống với tâm giải thoát Niết Bàn.

Điều quan trọng ở đây là phải hiểu rõ tâm bất động thanh thản an lạc là gì. Kẻo không chúng ta hiểu sai thì tu hành không mang lại kết quả gì mà lại lạc vào thiền ức chế tâm, lạc vào các trạng thái tưởng, trở nên điên khùng rồi nói rằng pháp tu này không đúng, không mang lại sự giải thoát.

Tâm bất động không phải là tâm không vọng tưởng, không phải là tâm không niệm thiện niệm ác.

Tâm bất động là tâm vẫn có niệm, nhưng chỉ có niệm thiện không có niệm ác; chỉ có niệm ly tham sân si mạn nghi, không có niệm tham sân si mạn nghi; chỉ có niệm sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh khác; không có niệm sống làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh khác; là tâm ly dục ly ác pháp, không có niệm dục và ác pháp; là tâm ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện; là tâm biết rõ mọi vật xung quanh nhưng không dính mắc, chứ không phải tâm lờ mờ, lim dim, không biết rõ mọi vật xung quanh (ý thức đã bị chìm, bị mất, ý thức bị mất là tu sai, là đã bị lọt vào tưởng); là tâm không sợ hãi lo lắng buồn khổ trước mọi cảm thọ bệnh tật, đau nhức, ngứa ngáy,...; là tâm không dính mắc, không bám, không nhìn vào bất kỳ cảm thọ nào dù là các trạng thái khinh an hỷ lạc nào của thân tâm hoặc trạng thái bất động, yên lặng, thanh tịnh của tâm...; là tâm có chánh tư duy tìm đạo lý có những công đức gì thì nên che giấu, không được phô bày, nhưng có lỗi lầm nào thì nên phát lồ sám hối,... Tâm bất động chính là tâm không phóng dật. Tâm không phóng dật chính là tâm bất động.

3 câu hỏi về Nghiệp

Hỏi: 1- Nghiệp
Nghiệp là cái gì? Nếu nghiệp là kết quả của hành động, không phải là một chủ thể thì làm sao nó lại tái sinh luân hồi được?

Hỏi: 2- Nghiệp làm sao chui vào bào thai?
Một đứa bé khi mới thành hình, đâu đã làm được gì, đâu đã tạo nghiệp, sao nói nó bị nghiệp dẫn, thế cái nghiệp đó ở đâu ra, làm sao chui vào bào thai được?

Hỏi: 3- Nghiệp lành của Phật
Nếu còn nghiệp thì còn tái sanh thì nghiệp lành của đức Phật vẫn đang phủ khắp thế giới này, sao nói Người đã thoát khỏi luân hồi sinh tử?

Ðáp hỏi 1: Nghiệp

Nghiệp là do lòng ham muốn của con người điều khiển hành động thân, miệng, ý tạo ra, chứ không phải nghiệp là kết quả của hành động thân, miệng, ý. Cho nên chủ thể tạo ra nghiệp là lòng ham muốn của con người.

Trong bốn chân lý của đạo Phật (Tứ Diệu Ðế) thì TẬP ÐẾ đức Phật đã xác định đó là LÒNG HAM MUỐN, nguyên nhân sinh ra đau khổ của con người. Vậy lòng ham muốn là chủ thể điều khiển các hành động nhân quả thiện ác từ ba nơi trong thân, đó là: THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH và Ý HÀNH.

Vì thế mới nói nghiệp là do các hành động vô minh của các duyên hợp và các duyên tan trong môi trường sống tạo thành, nên các duyên hợp và các duyên tan trong môi trường sống theo qui luật nhân quả tạo thành, mà chính gốc là lòng ham muốn nó cũng theo qui luật nhân quả làm chủ thể tạo tác ra nghiệp, nhưng các duyên hợp và các duyên tan trong môi trường sống đều là pháp vô thường, còn nghiệp là những từ trường do những hành động thiện ác của các duyên hợp và các duyên tan trong môi trường sống tạo thành nên nó tương ưng với những hành động vô minh thiện ác của môi trường sống mà tiếp tục tái sanh luân hồi nên gọi là duyên hợp tương ưng.

Thân tâm con người là một duyên hợp và cũng là duyên tan của môi trường sống cho nên nó là các pháp vô thường. Nó là các pháp vô thường nên không đi tái sanh luân hồi mà hành động thiện ác của nó phóng xuất ra những từ trường thiện ác huân tập thành một lực vô hình rất mạnh nên kinh sách Phật gọi là nghiệp. Nghiệp ấy tái sinh luân hồi, chứ không phải tâm con người đi tái sanh, vì tâm con người là pháp vô thường như trên đã nói. Khi chết là mất hết không còn một uẩn nào cả.

Ðáp hỏi 2: Nghiệp làm sao chui vào bào thai?

Ðứa bé khi mới thành hình còn trong bụng mẹ là một khối nghiệp cũ hợp duyên thành hình bào thai để trả nghiệp quả, vì thế nó thọ chịu biết bao nhiêu là khổ đau như ở trong bụng mẹ chịu chất nhớt nhao dơ bẩn chật chội cho đến 9 tháng 10 ngày mới xuất thai. Khi xuất thai chịu đau đớn vô cùng và suốt ba bốn năm nằm trên chất bài tiết của mình chịu hôi chịu thối, cha mẹ phải chịu cực khổ nuôi dưỡng cho bú cho ăn, thật là cực khổ trăm bề, đó là trả nghiệp hiện tại của đời trước.

Nghiệp thì không có chui bào thai, nghiệp đâu phải là linh hồn nên gọi là chui vào hay không chui bào thai. Câu hỏi của phật tử đã đặt là sai. Nghiệp chỉ có tương ưng hợp các duyên khác mà tạo thành bào thai. Cho nên đức Phật gọi là duyên hợp chứ không có nói chui vào.

Một đứa bé khi mới hình thành thì đó là hình thành thân ngũ uẩn của đứa bé. Hình thành thân ngũ uẩn gọi là nghiệp mà bào thai là thân ngũ uẩn do các duyên hợp lại tạo thành. Hình thành thân ngũ uẩn của đứa bé là bào thai. Quí phật tử có hiểu không? Bào thai là thân nghiệp. Thân nghiệp này là đứa bé co tay duỗi chân làm theo các hành động vô minh khi bào thai lớn dần trong bụng mẹ nên chật chội khó chịu, vì khó chịu nên co tay duỗi chân khiến cho bà mẹ bị đau đớn, đó là trả nghiệp cả mẹ lẫn con.

Những hành động đó gọi là nghiệp thọ khổ (khổ mẹ, khổ con) Nếu bảo rằng đứa bé mới thành hình đâu làm được gì, đâu đã tạo nghiệp, sao nói nó bị nghiệp dẫn…? Nghiệp không dẫn sao lại nằm trong bụng mẹ? Nghiệp không dẫn sao mẹ lại mang nặng đẻ đau? Nghiệp không dẫn sao cha mẹ lại lấy nhau để có thai nhi? Nghiệp không dẫn sao trai gái gặp nhau lại thương nhau kết làm chồng vợ? Nghiệp không dẫn sao lại mang thai, xuất thai rồi chịu muôn vàn khổ cực nuôi con lớn khôn? Hành động co tay duỗi chân của bào thai không phải là nghiệp sao?

Thân của đứa bé là nghiệp, còn bảo cái nghiệp nào ở đâu nữa. Nghiệp ngay trước mắt đó mà hỏi nghiệp thì cũng giống như một ông già lẫn lộn, đang ở trong nhà mình mà hỏi nhà tôi đâu? Nghiệp không có chui vào bào thai mà nghiệp chỉ có tương ưng với nghiệp của cha mẹ, do hành động của cha mẹ hợp duyên tạo thành nghiệp mới (bào thai). Ở đây không có vật gì chui vào bào thai, mà chỉ có nghiệp tương ưng với nghiệp rồi duyên hợp tạo thành nghiệp mới (đứa bé).

Ðáp hỏi 3: Nghiệp lành của Phật

Nghiệp lành của Phật là vô nghiệp (vô lậu), nên đức Phật đã thoát ra khỏi luân hồi tái sinh. Nghiệp lành của Phật ra khỏi qui luật nhân quả nên nó có một nội lực thâm hậu, do đó nó làm ngược lại qui luật nhân quả. Làm ngược lại qui luật của nhân quả, đó là làm chủ sự sống chết; làm chủ sự sống chết tức là làm chủ nhân quả. Làm chủ nhân quả thì làm sao còn tái sinh luân hồi được.

Nghiệp chia làm 3 loại:

1- Nghiệp ác hữu lậu
2- Nghiệp thiện hữu lậu
3- Nghiệp thiện vô lậu.

Người ở đời thường sống tạo tác ra hai nghiệp thiện hữu lậu và ác hữu lậu.

Riêng đời sống của đức Phật và các đệ tử của đức Phật thường ngăn ác diệt ác, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp vô lậu nên luôn luôn sống trong thiện pháp vô lậu, vì thế từ trường vô lậu không tương ưng với các từ trường hữu lậu của môi trường sống trong thế gian nên chấm dứt tái sanh luân hồi. Cho nên từ trường vô lậu (của đức Phật và các đệ tử của đức Phật) đang phủ trùm khắp thế giới mà không tái sinh luân hồi chỗ nào cả, vì không có đối tượng tương ưng. Không có đối tượng tương ưng nên chấm dứt tái sinh luân hồi.

Vậy nghiệp thiện vô lậu là cái gì? Nghiệp thiện vô lậu là trạng thái tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự, đó là chân lí của Phật giáo, người tu hành đạt đến chỗ này là chứng đạo quả A La Hán, không còn phải tu tập cái gì khác nữa, tuy chưa vào Niết bàn nhưng lúc nào cũng ở trong trạng thái Niết bàn.

Kính thưa quý Phật tử! Chúng tôi cố gắng diễn đạt để quý vị hiểu một chút về sự tương ưng duyên hợp của nhân quả trong môi trường sống trên hành tinh này. Xin quý Phật tử hãy đọc ÐẠO ÐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ thì rõ.

Thăm và chúc quý Phật tử vui mạnh nhớ xả tâm cho thật tốt.

Kính thư,
Trưởng lão Thích Thông Lạc

Nhàm chán thế gian

Người tu sĩ là người bỏ đời đi tìm sự giải thoát trong đạo Phật. Nhưng mấy ai bỏ được đời, dù đang mặc chiếc áo tu sĩ, nhưng tâm đời còn đầy dẫy dục vọng, cho nên chắc chắc không thể nào tìm thấy sự giải thoát chân chính của đạo Phật. Có vào đạo thì cũng tìm danh lợi trong đạo mà thôi.

Mong manh và ngắn ngủi!

Hãy thử tưởng tượng đi chỉ 5 phút thôi thân thể này sẽ biến thành tro ngay lập tức trong lò thiêu, hoặc da thịt này sẽ sình thối, nứt nẽ chảy nước rồi rã ra với mùi hôi thối nực nồng.

Ở tuổi 40, tôi hiểu được rằng. ..

Ở tuổi 40, tôi hiểu được rằng, cuộc sống sẽ chẳng vì ai, sẽ chẳng vì những lời oán trách mà đi theo một quỹ đạo khác.